TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN 2
121.
忍得一時之氣, 免得百日之憂.
Nhẫn đắc nhất thời chi khí, miễn đắc bách nhật chi ưu.
Nén được cơn giận một lúc, tránh được nỗi sầu trăm ngày.
CHÚ:
- Nhẫn 忍: Nhịn, chịu đựng.
– Khí 氣: Cơn giận; sinh khí 生氣: nổi giận.
– Nhất thời 一時: Một lúc.
– Miễn 免: Thoát khỏi, tránh khỏi.
– Miễn đắc 免得: Tránh được.
NGHĨA LÝ:
Câu này đề cao đức nhẫn. Chữ nhẫn 忍 gồm bachữ nhất đao tâm 一刀心 (hình ảnh một con dao đè
lên tim); nghĩa là nhẫn nhịn không phải dễ, cũng đau lòng lắm. Khéo nhịn thì
bình an. Nếu như không kiềm chế, cứ sân si tức giận, thì dễ gây điều đáng tiếc,
thậm chí có thể phạm tội hình sự, đành ân hận suốt đời, chứ phải đâu chỉ “sầu
trăm ngày”.
Người xưa khuyên: Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh /Thoái nhất bộ hải
khoát thiên không.
忍一時風平浪靜,
退一歩海闊天空.
(Nhịn một lúc sóng yên gió lặng / Lùi một bước biển rộng trời cao.)
Trong gia đình lại càng nên biết nhẫn 忍 để giữ được hòa 和, vì: Gia hòa vạn sự hưng 家和萬事興 (Gia đình hòa thuận thì vạn
sự hưng thịnh.)
122.
近來學得烏龜法; 得縮頭時且縮頭.
Cận lai học đắc ô quy pháp; đắc súc đầu thời thả súc đầu.
Gần đây học được cách rùa đen; lúc phải rụt thì rụt đầu.
CHÚ:
- Cận lai 近來: Gần đây.
– Ô 烏: 1/ Đen (hắc 黑), như: ô vân 烏雲 (mây đen), ô phát 烏髮 (tóc đen); 2/ chim quạ (ô nha 烏鴉); nguyệt lạc ô đề 月落烏啼 (trăng tà quạ kêu); 3/ mặt
trời: ô thố 烏兔 (mặt trời và mặt trăng).
– Quy 龜: Rùa.
– Ô quy 烏龜: 1/ Rùa đen, cũng gọi là kim quy 金龜, thảo quy 草龜; 2/ Khách thanh lâu; kẻ tham dâm, háo sắc.
– Súc 縮: 1/ Co rút lại, rút gọn; thân súc 伸縮 (duỗi ra co lại); 2/ tiết kiệm; như: súc y
tiết thực 縮 衣節食 (tằn tiện cơm áo).
– Súc đầu 縮頭: Rụt đầu.
– Súc đầu ô quy 縮頭烏龜: Rùa đen rụt đầu (ám chỉ kẻ nhát gan, không dám đối diện sự thực).
NGHĨA LÝ:
Câu này tiếp ý câu 121. Nhẫn nhịn để bình an. Học cách rụt đầu của rùa,
khi cần thì rụt đầu. Một điều nhịn chín điều lành.
123.
懼法朝朝樂; 欺公日日憂.
Cụ pháp triêu triêu lạc; khi công nhật nhật ưu.
Sợ pháp luật sớm sớm vui; khinh phép công ngày ngàysầu.
CHÚ:
- Cụ 懼: Sợ hãi (kinh cụ 驚懼, úy 畏, hại phạ 害怕, kinh hãi 驚駭). Cụ 懼 là một trong bảy tình (thất tình) của con
người: hỷ 喜 (mừng), nộ 怒 (giận), ái 愛(yêu), ố 惡 (ghét), ai 哀 (buồn), lạc 樂 (vui), cụ 懼 (sợ).
– Khi 欺: 1/ Xem thường, làm trái; 2/ Lừa dối (khi phiến 欺騙).
– Triêu 朝: Sáng sớm, triêu mộ 朝暮 (sớm chiều).
– Triêu triêu 朝朝: Mỗi ngày, như thiên thiên 天天, nhật nhật 日日.
NGHĨA LÝ:
Hãy tuân thủ pháp luật, xem trọng phép công để sống an vui.
124.
人生一世; 草生一春.
Nhân sinh nhất thế; thảo sinh nhất xuân.
Người sống một đời; cỏ sống một mùa xuân.
CHÚ:
- Thế 世: Đời. Quan niệm xưa, một thế là ba mươi năm (tam thập niên vi nhất thế 三十年為一世), cho nên chữ thế 世 cũng viết là ba chữ thập 十 liền nhau: 丗, 卋. Thế 世 viết kiểu chữ triện là chữ
chỉ 止 (dừng lại) mà trên là ba chữ thập , ý nói 30 tuổi thì dừng lại được
rồi.
Thông thường đời người được xem là trăm năm. Người già (lão nhân 老人, kỳ lão 耆老, mạo điệt 耄耋) gọi cụ thể là: điệt 耋 (70 tuổi), mạo 耄(80-90 tuổi), kỳ di 期頤 (trên 100 tuổi; kỳ: mong
đợi, di: chăm sóc; ở tuổi này không tự chăm sóc được bản thân nên mong nhờ
người giúp). Thời xưa gọi đàn ông sống lâu là thọ壽, phụ nữ sống lâu là phúc 福, nên nói phúc thọ song toàn福壽雙全 (cụ bà cụ ông cùng sống
lâu, bách niên giai lão), rồi sau hiểu đại khái là đa phúc đa thọ 多福多壽 thôi.
Về sống lâu, dân gian có các từ: hoa thọ 華壽 (61 tuổi), hỷ thọ 喜壽 (77 tuổi), mễ thọ 米壽 (88 tuổi), tốt thọ 卒壽 (90 tuổi) bạch thọ 白壽 (99 tuổi), trà thọ 茶壽 (108 tuổi), hoàng thọ 皇壽, xuyên thọ 川壽 (111 tuổi), ngoan thọ 頑壽 (119 tuổi), tích thọ 昔壽 (120 tuổi). Chữ hoa 華 gồm 艹一 và bốn chữ 十 (tức 21+40= 61); chữ hỷ 喜 viết chữ thảo như 七十七 (77); chữ mễ 米 là 八十八 (88) gộp lại; chữ tốt卒 viết tắt là 卆 (tức 九十 là 90); chữ bạch 白 là chữ bách 百 (100) bỏ nét ngang (là 1)
trên đầu, tức 99 (hai chữ 白 [bái] và 百 [bǎi] phát âm phổ thông gần giống nhau); chữ
trà 茶 gồm 艹八十八 (tức 108); chữ hoàng皇 gồm 白一十一 (tức 99+1+10+1 = 111); chữxuyên 川 y hệt 111; chữ ngoan 頑 gồm 二八百一八 (tức 119); chữ tích 昔 gồm 艹百 (tức 120).
Kiếp sống vạn vật là hữu hạn. Quỷ vô thường không chừa một ai.
125.
白髮不隨老人去; 看來又是白頭翁.
Bạch phát bất tùy lão nhân khứ; khán lai hựu thị bạch đầu ông.
Tóc bạc không đi theo ý người già; xem qua ngó lại chính là ông đầu bạc.
CHÚ:
- Bạch phát bất tùy lão nhân khứ 白髮不隨老人去: Người già không muốn tóc bạc, nhưng tóc bạc
không bỏ đi theo ý họ. Câu này tiếp ý câu 124. Đời người hữu hạn, thời gian
trôi qua nhanh như tên bay, tóc xanh sớm bạc, cho nên phải quý tuổi trẻ, phấn
đấu học tập, lập sự nghiệp, kẻo cái già sồng sộc sau lưng.
Chu Hy 朱熹 (1130-1200) nói:
Thiếu niên dị lão học nan thành Nhất thốn quang âm bất khả khinh
Vị giác trì đường xuân thảo mộng Giai tiền ngô diệp dĩ thu thanh.
少年易老學難成 一寸光陰不可輕
未覺池塘春草夢階前梧葉已秋聲.
(Trẻ dễ mau già, học khó thành Một tấc thời gian không thể khinh
Chưa cảm giấc mộng của cỏ mùa xuân bên bờ ao
Tiếng thu đã về với xác lá ngô đồng trước thềm.)
Dị bản:
Hắc phát bất tri cần học tảo, Chuyển nhãn tiện thị bạch đầu ông.
黑髮不知勤學早, 轉眼便是白頭翁.
(Kẻ tóc đen chẳng biết sớm học hành, chớp mắt chính là lão đầu bạc.)
Vế đầu lấy từ bài Khuyến Học 勸學 của thư pháp gia Nhan Chân Khanh 顏真卿(709-785) đời Đường:
Tam canh đăng hỏa ngũ canh kê Chính thị nam nhi độc thư thời
Hắc phát bất tri cần học tảo Bạch thủ phương hối độc thư trì.
三更燈火五更雞 正是男兒讀書時
黑發不知勤學早 白首方悔讀書遲.
(Canh ba thắp đèn đến canh năm gà gáy, là lúc nam nhi đọc sách;
Khi tóc đen không biết sớm học, lúc đầu bạc mới hối hận đọc sách muộn.)
126.
月到十五光明少; 人到中年萬事休.
Nguyệt đáo thập ngũ quang minh thiểu; nhân đáo trung niên vạn sự hưu.
Trăng đến mười lăm thì bớt tỏ; người đến trung niên mọi sự ngưng.
CHÚ:
- Thập ngũ 十五: Ngày mười lăm, ngày rằm (vọng望).
Một tháng có: sóc 朔 (mồng một), vọng望 (rằm), hối 晦 (cuối tháng).
– Hưu 休: 1/ Dừng, ngưng nghỉ (thoái hưu 退休: nghỉ hưu); 2/ Ly dị (hưu thê 休妻: thôi vợ).
NGHĨA LÝ:
Quy luật của vạn vật là khi phát triển đến đỉnh thịnh thì suy thoái. Mặt
trời đến chính ngọ thì xế bóng; trăng qua rằm thì bớt tỏ; người đến trung niên
bắt đầu suy. Câu này tiếp ý hai câu 124 và 125, đại khái khi ta còn trẻ, khí
lực sung mãn thì siêng năng phấn đấu học tập và lập nghiệp, kẻo đến trung niên
thì đã muộn.
127.
兒孫自有兒孫福; 莫為兒孫作馬牛.
Nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc; Mạc vị nhi tôn tác mã ngưu.
Con cháu tự có phúc của chúng; chớ vì con cháu mà làm trâu ngựa.
CHÚ:
- Mã 馬: Ngựa.
– Ngưu 牛: Trâu, bò.
– Thủy ngưu 水牛: Trâu.
– Hoàng ngưu 黃牛: Bò.
NGHĨA LÝ:
Các bậc cha mẹ chớ vì quá thương con cháu mà ra sức ngựa trâu để gầy
dựng cơ nghiệp dành cho chúng hưởng. Người Việt nói: Đời cua, cua máy; đời cáy,
cáy đào. Cứ nuôi dạy chúng bình thường, cho ăn học đầy đủ, để chúng tự lập thì
chúng mới quý thành tựu của chúng. Còn như chăm chăm để gia tài cho chúng, e
rằng chúng ỷ lại, thành phá gia chi tử. Câu này cải biên từ câu của Quan Hán
Khanh 關漢卿 (1234 -1300) đời Nguyên:
Nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc; Mạc vị nhi tôn tố viễn ưu.
兒孫自有兒孫福; 莫為兒孫做遠憂.
(Con cháu tự có phúc của chúng; Chớ vì con cháu mà lo xa.)
128.
生年不滿百; 常懷千歲憂.
Sinh niên bất mãn bách; thường hoài thiên tuế ưu.
Sống chẳng đầy trăm năm; thường ôm sầu ngàn năm.
NGHĨA LÝ:
Câu này hàm ý đời người hữu hạn mà thói đời thích lo việc ngàn năm, thật
vô ích. Các sách đều chép Nhân sinh bất mãn bách 人生不滿百, nhưng chép Sinh niên bất mãn bách 生年不滿百 thì đúng hơn, vì đây là mở
đầu một trong mười chín bài thơ cổ, được chép trong bộ Chiêu Minh Văn Tuyển 昭明文選 của Tiêu Thống 蕭統 (501-531), con cả của Lương
Vũ Đế 梁武帝 tức Tiêu Diễn 蕭衍 (464-549):
生年不滿百, 常懷千歲憂
晝短苦夜長, 何不秉燭遊
為樂當及時, 何能待來茲
愚者愛惜費, 但為後世嗤
仙人王子喬, 難可與等期
Sinh niên bất mãn bách Thường hoài thiên tuế ưu
Trú đoản khổ dạ trường Hà bất bỉnh chúc du
Vi lạc đương cập thì Hà năng đãi lai tư
Ngu giả ái tích phí Đãn vi hậu thế xi
Tiên nhân Vương Tử Kiều Nan khả dữ đẳng kỳ.
Sống chẳng đầy trăm năm Thường ôm sầu ngàn năm
Ngày ngắn đêm dài khổ Sao chẳng đốt đuốc chơi
Gặp lúc vui cứ vui Đợi chi dịp vui đến
Kẻ ngu yêu tiếc phí Chỉ khiến hậu thế cười
Vương Tử Kiều thành tiên Chúng ta khó mong bằng.
Bài thơ nhắc tới Vương Tử Kiều, ông là thái tử nước Tấn, đi tu thành
Tiên.
129.
今朝有酒今朝醉; 明日愁來明日愁.
Kim triêu hữu tửu kim triêu túy; Minh nhật sầu lai minh nhật sầu.
Hôm nay có rượu thì say khướt; ngày mai sầu đến thì sẽ sầu.
CHÚ:
- Kim triêu 今朝: Kim nhật 今日 (hôm nay).
NGHĨA LÝ:
Câu này trích trong bài Tự Khiển 自遣 (Giải Khuây) của La Ẩn 羅隱 (833-909) đời Đường:
Đắc tức cao ca thất tức hưu Đa sầu đa hận diệc du du
Kim triêu hữu tửu kim triêu túy Minh nhật sầu lai minh nhật sầu.
得即高歌失即休多愁多恨亦悠悠
今朝有酒今朝醉 明日愁來明日愁.
(Được thì ca hát, mất thì thôi Đa sầu lắm hận cũng thế thôi
Hôm nay có rượu thì say khướt Ngày mai sầu đến thì sẽ sầu.)
130.
路逢險處難迴避; 事到頭來不自由.
Lộ phùng hiểm xứ nan hồi tỵ; Sự đáo đầu lai bất tự do.
Đường gặp chỗ hiểm khó tránh được; sự cố xảy đến không do mình.
CHÚ:
- Hiểm xứ 險處: Chỗ hiểm trở.
- Hồi tỵ 迴避: Quay tránh ra chỗ khác.
- Bất tự do 不自由: Bất do kỷ 不由己(không do chính mình).
NGHĨA LÝ:
Có khi ta gặp sự việc phát sinh ngoài ý muốn, không tránh được (force
majeure).
131.
藥能醫假病; 酒不解真愁.
Dược năng y giả bệnh; tửu bất giải chân sầu.
Thuốc trị được bệnh giả; rượu không khuây được mối sầu thật.
CHÚ:
- Y 醫: 1/ Y học; 2/ Trị bệnh.
- Giả bệnh 假病: Bệnh giả, bệnh tưởng.
- Giải 解: Làm hết, khuây; giải sầu 解愁 (làm hết buồn), giải khát 解渴 (làm cho hết khát).
- Chân sầu 真愁: Mối sầu thật sự.
NGHĨA LÝ:
Bệnh tưởng là bệnh tâm lý, có thể lấy thuốc bổ trị cũng hết. Nhưng sầu
nát ruột gan thì rượu không thể giúp giải sầu. Lý Bạch 李白 (701-762) nói:
Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu
Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu.
抽刀斷水, 水更流
舉杯銷愁, 愁更愁.
Rút dao chém nước, nước càng chảy
Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu.
132.
人貧不語; 水平不流.
Nhân bần bất ngứ; Thủy bình bất lưu.
Người nghèo không nói; nước bình không trôi.
CHÚ:
Người nghèo lời nói không có sức mạnh; có nói chicũng bị cho là sai, như
câu 31 trên đây: Hữu tiền đạo chân ngữ; vô tiền ngứ bất chân. 有錢道真語; 無錢語不真. (Có tiền nói là đúng;
không tiền nói là sai.). Mực nước chỗ cao chỗthấp, thì nước chảy. Nếu mực nước
ngang thì nước lặng, không chảy. Đa số sách chép câu này như vậy, nhưng so ý
hai vế thì không liên quan.
Nguyên văn câu này trong Ngũ Đăng Hội Nguyên 五燈會元(quyển 18) là: Nhân bình bất
ngứ; thủy bình bất lưu. 人平不語; 水平不流. (Người bình thì không nói; nước bình thì không trôi.) Người bình là
người tâm bình khí hòa, hiểu đạo, nên không đa ngôn, không nói thị phi. Người
đạt đạo thì luôn trầm mặc, không hý lộng, không lắm lời.
133.
一家養女百家求; 一馬不行百馬憂.
Nhất gia dưỡng nữ bách gia cầu; Nhất mã bất hành bách mã ưu.
Một nhà nuôi con gái, trăm nhà cầu; một con ngựa không đi, trăm con ngựa
sầu.
CHÚ:
Chữ bách 百 thông thường là con số đại khái, ý là nhiều, chứ không chính xác là một
trăm.
NGHĨA LÝ:
Một nhà nếu nuôi dạy con gái ngoan hiền thì nhiều nhà đến xin cầu hôn.
Một con ngựa (trong một bầy) nếu không đi được, thì cả bầy lo. Tục ngữ: Một con
ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ.
134.
有花方酌酒; 無月不登樓.
Hữu hoa phương chước tửu; Vô nguyệt bất đăng lâu.
Hoa có nở thì mới uống rượu ngắm hoa; trăng không hiện thì không lên lầu
ngắm trăng.
CHÚ:
- Phương 方: Thì, mới, rồi mới.
- Chước 酌: Rót rượu, uống rượu; như: độc chước 獨酌 (uống rượu một mình), châm chước 斟酌 (rót rượu; đắn đo tính
toán).
NGHĨA LÝ:
Làm việc gì cũng có lý do.
135.
三杯通大道; 一醉解千愁.
Tam bôi thông đại đạo; Nhất túy giải thiên sầu.
Ba chén rượu thông đạo lớn; Một trận say giải ngàn sầu.
CHÚ:
Tam bôi thông đại đạo lấy từ bài thơ Nguyệt Hạ Độc Chước 月下獨酌 (Dưới Trăng Uống Một Mình)
của Lý Bạch
李白 (701-762):
Tam bôi thông đại đạo Nhất đấu hợp tự nhiên.
三杯通 大道 一斗合自然.
Uống ba chén thông đạo lớn; Uống một đấu hợp tự nhiên.
NGHĨA LÝ:
Rượu thì tùy tâm khen chê. Khen thì cho là rượu đả thông kinh mạch, máu
huyết lưu thông, trí minh mẫn nên thông suốt đại đạo, có thể phá thành sầu:
Nhất túy giải thiên sầu. 一醉解千愁. (Một trận say giải ngàn sầu.) Chê thì cho là
càng uống càng sầu, như: Tửu bất giải chân sầu.酒不解真愁. (Rượu không khuây được mối sầu thật.) Cũng
Lý Bạch lại nói: Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu. 舉杯銷愁, 愁更愁. (Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu.)
136.
深山畢竟藏猛虎; 大海終須納細流.
Thâm sơn tất cánh tàng mãnh hổ; Đại hải chung tu nạp tế lưu.
Non sâu rốt cuộc ẩn tàng cọp khỏe; Biển lớn cuối cùng dung nạp những
dòng con.
CHÚ:
- Tất cánh 畢竟: Rốt cuộc (chung quy 終歸, chung cứu 終究, đáo để 到底).
- Chung tu 終須: Rốt cuộc tất nhiên là thế (tối hậu tất nhiên 最後必然).
- Nạp 納: Dung nạp, dung chứa.
- Tế lưu 細流: Những dòng chảy nhỏ.
NGHĨA LÝ:
Cọp khỏe ẩn tàng sơn lâm, như nhân tài chưa lộ diện, chưa được đời biết
tới. Dù vậy, đức độ cũng phải bao dung như biển lớn, dung nạp trăm sông (hải
nạp bách xuyên 海納百川).
137.
惜花須檢點; 愛月不梳頭.
Tích hoa tu kiểm điểm; Ái nguyệt bất sơ đầu.
Tiếc hoa nên cẩn thận; Yêu trăng chớ chải đầu.
CHÚ:
- Kiểm điểm 檢點: Thận trọng lời nói và hành vi (ngôn hành cẩn thận 言行謹慎).
- Sơ 梳: 1/ Cây lược; 2/ Chải.
- Sơ đầu 梳頭: Chải đầu, chải tóc (sơ phát 梳髮); ở đây ngụ ý ưa trang điểm, trau chuốt bề
ngoài.
- Bất sơ đầu 不梳頭: Bất tuyển sơ đầu 不選梳頭 (không chọn kẻ diêm dúa).
NGHĨA LÝ:
Hoa và nguyệt ám chỉ phụ nữ, chuyện trai gái. Đối với phụ nữ thì người
nam nên giữ gìn lời nói và hành vi, không được sàm sỡ, trêu ghẹo, và không nên
yêu phụ nữ ưa trau chuốt bề ngoài.
138.
大抵選他肌骨好, 不擦紅粉也風流.
Đại để tuyển tha cơ cốt hảo, Bất sát hồng phấn dã phong lưu.
Nói chung tuyển con gái (làm vợ) nên chọn người khỏe mạnh, hơn là kẻ ưa
trang điểm hay phong lưu.
CHÚ:
- Đại để 大抵: Nói chung là (đại khái 大概, đại trí 大致).
- Cơ 肌: Bắp thịt.
- Cốt 骨: Xương.
- Cơ cốt hảo 肌骨好: Thịt xương tốt, khỏe mạnh.
- Sát 擦: Xoa, thoa, chà xát (sát mạt 擦抹, đồ mạt 涂抹). Dị bản: bất phó hồng phấn… - Phó傅: Sát 擦 (chà, xoa).
- Sát hồng phấn 擦紅粉: Xoa phấn hồng.
- Dã 也: 1/ Cũng; 2/ Hoặc là.
NGHĨA LÝ:
Câu này tiếp ý câu 137. Yêu phụ nữ (và muốn kết hôn) thì người nam nên
thận trọng ngôn hành (lời lẽ, hành vi) và nên chọn người khỏe mạnh hơn là các
nàng ưa trau chuốt bề ngoài hoặc ăn chơi.
139.
受 恩 深 處 宜 先 退; 得 意 濃 時 便 可 休.
Thụ ân thâm xứ nghi tiên thoái; Đắc ý nùng thời tiện khả hưu.
Được ân huệ sâu nên lui trước; Khi đắc ý nhiều hãy biết dừng.
CHÚ:
- Thụ ân 受恩: Nhận ân huệ.
- Thâm xứ 深處: Chỗ sâu.
- Nghi 宜: Nên.
- Tiên thoái 先退: Thoái lui trước.
- Đắc ý 得意: Đạt được ý nguyện; thành công.
- Nùng thời 濃時: Lúc nồng nàn, thật nhiều.
- Tiện 便: Bèn.
- Khả hưu 可休: Có thể dừng lại.
NGHĨA LÝ:
Câu này đi liền câu 140. Khi nhận ân ai sâu đậm và khi thành công thì
nên biết dừng lại.
140.
莫待是非來入耳, 從前恩愛反為仇.
Mạc đãi thị phi lai nhập nhĩ, Tòng tiền ân ái phản vi cừu.
Chớ đợi lúc nghe tiếng thị phi, [vì lúc ấy] ân tình ngày trước trở ngược
thành thù hận.
CHÚ:
- Mạc đãi 莫待: Chớ đợi.
- Thị phi lai nhập nhĩ 是非來入耳: Chuyện thị phi lọt vào tai; nghe lời đồn
đoán này nọ.
- Tòng tiền ân ái 從前恩愛: Ân tình ngày trước.
- Phản vi cừu 反為仇: Trở ngược thành oán thù.
NGHĨA LÝ:
Câu này tiếp ý câu 139. Khi nhận ân ai sâu đậm và khi thành công thì nên
biết dừng lại. Ân thâm, họa sâu. Tình người ấm lạnh, yêu ghét vô chừng. Lúc ta
được yêu quý thì nên sợ sẽ có lúc bị ghét bỏ. Lúc ta thành công đắc ý, dễ bị
ganh ghét, đồn đại, nói xấu, hãm hại. Để tránh bị gặp hoàn cảnh trái ngược
không hay, ta nên thoái lui sớm: Công thành thân thoái. 功成身退.
141.
留得五湖明月在, 不愁無處下金鉤.
Lưu đắc ngũ hồ minh nguyệt tại, Bất sầu vô xứ há kim câu.
Giữ được trăng sáng năm hồ, chẳng sầu không chốn buông câu.
CHÚ:
- Ngũ hồ 五湖:
1/ Thời xưa là Thái hồ 太湖;
2/ Thời nay là năm hồ: Động Đình hồ 洞庭湖, Bà Dương hồ 鄱陽湖, Thái hồ 太湖, Sào hồ 巢湖, Hồng Trạch hồ 洪澤湖.
- Kim câu 金鉤: Lưỡi câu vàng; câu cá.
- Há kim câu 下金鉤: Buông câu, câu cá.
NGHĨA LÝ:
Câu này tiếp ý câu 140, lấy tích Phạm Lãi 范蠡 thời Xuân Thu giúp vua Việt (Câu Tiễn) đánh
thắng vua Ngô (Phù Sai). Phạm Lãi cho rằng Câu Tiễn là kẻ có thể chung hoạn nạn
chứ không thể chung vinh quang, nên ông khôn ngoan rút lui sớm để khỏi bị diệt.
Ông đưa Tây Thi 西施 chu du ngũ hồ, mai danh ẩn tích. Phạm Lãi công thành thân thoái, rút
lui để bảo toàn thân, quy ẩn để tiêu dao ngắm trăng ngũ hồ. Vậy lo gì không có
chỗ buông câu?
142.
休別有魚處; 莫戀淺灘頭.
Hưu biệt hữu ngư xứ; Mạc luyến thiển than đầu.
Chớ bỏ nơi có cá; Đừng bám chỗ nước nông.
CHÚ:
- Hưu 休: Mạc 莫 (đừng, chớ).
- Biệt 別: Rời bỏ (ly biệt 離別, từ biệt 辭別).
- Hữu ngư xứ 有魚處: Chỗ có cá.
- Luyến 戀: Yêu thương, lưu luyến.
- Thiển 淺: Cạn, nông (trái với thâm 深).
- Than đầu 灘頭: Bờ nước, bến nước.
143.
去時終須去; 再三留不住.
Khứ thời chung tu khứ; Tái tam lưu bất trú.
Đến lúc đi thì phải đi thôi; chần chừ ở lại cũng không được.
NGHĨA LÝ:
Câu này nói về chữ thời. Tùy thời mà làm. Việc được mất, đi ở, cũng tùy
thời, không miễn cưỡng, không gượng cầu. Người xưa nói:
Sủng nhục bất kinh, nhậm bằng đình tiền hoa khai hoa lạc;
khứ lưu tùy ý, nhàn khán thiên thượng vân quyển vân thư.
寵辱不驚, 任憑庭前花開花落; 去留隨意, 閑看天上雲卷雲舒.
Được yêu hay bị nhục cũng không sợ, mặc kệ cho trước sân hoa nở hay
rụng;
Đi hay ở tùy ý, thản nhiên nhìn mây trời tụ tán.)
144.
忍一句, 息一怒, 饒一著, 退一步.
Nhẫn nhất cú, tức nhất nộ, nhiêu nhất trứ, thoái nhất bộ.
Nhịn một câu, nén một giận, nhường một nước, lùi một bước.
CHÚ:
- Tức 息: Ngưng, dừng, nghỉ.
- Nhiêu 饒:
1/ Tha thứ (nhiêu thứ 饒恕);
2/ Nhường.
- Trứ 著: Nước cờ.
- Nhiêu nhất trứ 饒一著: Nhường một nước cờ.
NGHĨA LÝ:
Câu này khuyên về đức nhẫn nhịn, như câu 120. Trong xử thế thì nhường
nhịn lại tốt hơn là tranh phần thắng đối với kẻ khác.
Người xưa khuyên:
Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh
Thoái nhất bộ hải khoát thiên không.
忍一時風平浪靜退一步海闊天空.
(Nhịn một lúc sóng yên gió lặng / Lùi một bước biển rộng trời cao.)
Hay là:
Thoái nhất bộ càn khôn đại Nhiêu nhất trứ vạn lự hưu.
退一步乾坤大饒一著萬慮休.
(Lùi một bước trời đất rộng / Nhường một bước hết lo âu.)
Câu này có thể hiểu là bốn cách ứng xử của mình đối với người khác. Cũng
có thể hiểu khác: Mình nhịn một câu nói, thì người khác ngưng cơn giận; mình
nhường một bước, thì người khác cũng lui một bước. Sách Thái Căn Đàm 菜根譚của Hồng Ứng Minh 洪應明 đời Minh có câu:
Xử sự nhượng nhất bộ vi cao, thoái bộ tức vi tiến bộ đích căn bản; đãi
nhân khoan nhất phân tắc phúc, lợi nhân thực lợi kỷ đích căn cơ.
處事讓一步為高, 退步即為進步的根本; 待人寬一分則福, 利人實利己的根基.
(Xử sự mà nhường một bước là cao, lui bước là căn bản của tiến bước; đối
đãi người khác khoan dung một phần thì có phúc, làm lợi cho người khác thực là
căn cơ của việc làm lợi cho mình.)
145.
三十不豪, 四十不富, 五十將來尋死路.
Tam thập bất hào, tứ thập bất phú, ngũ thập tương lai tầm tử lộ.
Nếu ba mươi không tự lập, thì bốn mươi sẽ không giàu, và tới năm mươi sẽ
tìm đường chết.
CHÚ:
- Hào 豪: Tự lập tự cường 自立自強.
- Dị bản:
1/ ngũ thập tương cận tầm tử lộ 五十將近尋死路; ngũ thập lâm cận tầm tử lộ 五十臨近尋死路 (năm mươi sắp tìm đường
chết);
2/ ngũ thập tương suy tầm tử trợ 五十將衰尋 子助 (năm mươi tuổi suy yếu tìm sự giúp đỡ của
con).
146.
生不認魂, 死不認屍.
Sinh bất nhận hồn, tử bất nhận thi.
Khi sống không nhận biết linh hồn, lúc chết không nhận biết thể xác.
CHÚ:
- Thi 屍: Xác chết (thi thể 屍體, tử thi 死屍), cũng viết là 尸.
NGHĨA LÝ:
Câu này hình như chép lạc vô đây, vì đề cập vấn đề siêu hình, không liên
quan câu kế trước và câu kế sau.
Thuyết này cho rằng con người có linh hồn, khi chết thì hồn lìa khỏi
xác. Đa số người ta không biết như thế, nên lúc sống thì không nhận biết là có
linh hồn, khi chết hồn xuất ra khỏi xác nhưng không nhận biết xác của mình.
147.
父母恩深終有別; 夫妻義重也分離.
Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt; Phu thê nghĩa trọng dã phân ly.
Ơn cha mẹ sâu rồi cũng cách biệt; Nghĩa vợ chồng nặng rồi cũng chia ly.
NGHĨA LÝ:
Con người sống trong gia đình, có cha mẹ, vợ chồng, con cái. Dù ân tình
yêu thương sâu nặng thế nào, rồi có lúc phải chia tay. Giống như một nhóm hành
khách thân thiết cùng ngồi trong chuyến xe cuộc đời, đến một trạm nào nó, từng
người sẽ xuống xe và không bao giờ gặp lại nữa. Sinh ly tử biệt là định mệnh,
không ai tránh được. Điều đó nhắc chúng ta rằng, khi còn sống thì hãy quan tâm
chăm sóc nhau nhiều hơn, để sau này người thân không còn nữa thì ta cũng không
ân hận, hối tiếc điều gì.
148.
人生似鳥同林宿, 大限來時各自飛.
Nhân sinh tự điểu đồng lâm túc, Đại hạn lai thời các tự phi.
Con người sống như chim ở cùng rừng,
Khi tai nạn lớn xảy tới thì ai nấy tự bay.
CHÚ:
- Túc 宿: Ở, trú.
- Hạn 限: Ranh giới, giới hạn, kỳ hạn.
Ở đây đại hạn 大限 là hạn chót, ám chỉ đại nạn 大難, tức lúc chết
NGHĨA LÝ:
Câu này tiếp ý câu 147. Dù chung sống nhưng đại nạn của ai thì người ấy
chịu, không ai chết thay cho ai.
149.
人善被人欺; 馬善被人騎.
Nhân thiện bị nhân khi; Mã thiện bị nhân kỵ.
Kẻ hiền lành bị người ta lấn hiếp; Ngựa giỏi bị người ta cưỡi.
CHÚ:
- Khi 欺: Lấn hiếp (khi phụ 欺負), lừa dối (khi biển 欺騙).
NGHĨA LÝ:
Người lương thiện vốn chân thật, thấy ai cũng tưởng họ hiền lành như
mình nên dễ bị lừa gạt, ức hiếp. Nhưng ngựa giỏi thì người ta mới cưỡi. Sách
Yến Tử Xuân Thu 晏子春秋 khuyên: Vật thừa nô mã. 勿乘駑馬. (Chớ cưỡi ngựa kém.)
- Nô 駑: Hèn kém.
150.
人無橫財不富, 馬無野草不肥.
Nhân vô hoạnh tài bất phú; Mã vô dã thảo bất phì.
Người không có tiền của bất chính thì không giàu;
Ngựa không có cỏ dại thì không mập.
CHÚ:
- Hoạnh tài 橫財: Tiền của có được không chính đáng (nhặt của rơi, đánh bạc ăn, tham
nhũng, hối lộ…).
- Dã thảo 野草: Cỏ tạp ngoài đồng.
Vế sau có dị bản: Mã vô dạ thảo bất phì. 馬無夜草不肥. (Ngựa không có cỏ ăn thêm ban đêm thì không
mập.)
151.
人惡人怕天不怕; 人善人欺天不欺.
Nhân ác nhân phạ Thiên bất phạ; Nhân thiện nhân khi Thiên bất khi.
Kẻ ác thì người ta sợ chứ Trời không sợ; Người hiền thì người ta lừa chứ
Trời chẳng lừa.
CHÚ:
Các chữ nhân 人 ở câu này chỉ đối tượng khác nhau.
NGHĨA LÝ:
An ủi người bị ức hiếp, bị lừa gạt, để họ không mất đức tin vào Trời
cao.
152.
善惡到頭終有報, 只爭來早與來遲.
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì.
Việc thiện và việc ác cuối cùng rồi có báo ứng, chỉ là sớm hay muộn mà
thôi.
CHÚ:
- Đáo đầu 到頭: Cuối cùng, kết thúc 結束.
- Tranh 爭: Như thế nào (như hà 如何).
- Lai tảo 來早: Đến sớm.
- Lai trì 來遲: Đến trễ.
- Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì 只爭來早與來遲: Chỉ là đến sớm và đến trễ như thế nào.
NGHĨA LÝ:
Câu này nói về luật nhân quả báo ứng. Kinh Cảm Ứng nói: Họa phúc vô môn
duy nhân tự triệu; thiện ác chi báo như ảnh tùy hình. 禍福無門惟人自召; 善惡之報如影隨形. (Họa và phúc không có nẻo
vào mà do con người vời đến cho mình.) Kinh Lăng Nghiêm nói: Thiện hữu thiện
báo; ác hữu ác báo. Mạc ngôn bất báo; thời hậu vị đáo. 善有善報; 惡有惡報. 莫言不報; 時候未到. (Thiện có báo ứng thiện;
ác có báo ứng ác. Đừng nói không có báo ứng; chỉ là chưa tới lúc thôi.) Ai tin
luật nhân quả báo ứng thì như Kinh Pháp Cú nói: Chư ác mạc tác; chúng thiện
phụng hành. 諸惡莫作; 眾善奉行. (Chớ làm mọi điều ác; hãy làm mọi điều thiện.)
153.
黃河尚有澄清日, 豈可人無得運時.
Hoàng Hà thượng hữu trừng thanh nhật, Khởi khả nhân vô đắc vận thời.
Hoàng Hà thậm chí còn có ngày nước trong, chẳng lẽ con người không có
lúc may mắn sao.
CHÚ:
- Thượng 尚: Thậm chí (thượng thả 尚且).
- Trừng thanh 澄清: Trong trẻo.
- Khởi khả 豈可: Chẳng lẽ, lẽ nào, há (nan đạo 難道).
- Đắc vận thời 得運時: Lúc gặp may, thời vận tốt.
NGHĨA LÝ:
Dòng nước Hoàng Hà phù sa đục ngầu; theo truyền thuyết có một ngày nước
sông sẽ trong trẻo. Câu này an ủi và động viên kẻ thất vọng, nản chí vì thất
bại, rủi ro.
154.
得寵思辱; 安居慮危.
Đắc sủng tư nhục; An cư lự nguy.
Được yêu hãy nghĩ đến lúc sẽ bị nhục; ở yên hãy lo lúc sẽ bị nguy khốn.
NGHĨA LÝ:
- Lúc nào cũng hãy phòng xa. Tình người ấm lạnh, lúc yêu lúc ghét, thậm
chí yêu hóa ra thù. Vậy khi được yêu thì hãy nghĩ đến lúc sẽ bị ghét bỏ, bị
nhục nhã, do đó hãy thận trọng hành vi và lời nói để giữ vẹn ân tình.
An cư lự nguy 安居慮危 hay Cư an tư nguy 居安思危 là thái độ cảnh giác cao, dự phòng tình huống
nguy hiểm có thểxảy ra, từ đó chuẩn bị kịch bản chu đáo để đối phó hữu hiệu.
Chu Dịch (Hệ Từ hạ) chép: Tử viết: Nguy giả, an kỳ vị giả dã; vong giả,
bảo kỳ tồn giả dã; loạn giả, hữu kỳ trị giả dã. Thị cố quân tử an nhi bất vong
nguy, tồn nhi bất vong vong, trị nhi bất vong loạn, thị dĩ thân an nhi quốc gia
khả bảo dã. 子曰: 危者, 安其位者也; 亡者, 保其存者也; 亂者, 有其治者也. 是故君子安而不忘危, 存而不忘亡, 治而不忘亂, 是以身安而國家可保也. (Khổng Tử nói: Nguy là [bởi cứ tin rằng] địa vị yên ổn mãi. Tiêu vong
là [bởi cứ tin rằng] quyền lợi còn mãi. Loạn là [bởi cứ tin rằng] thiên hạ an
bình mãi. Cho nên người quân tử lúc yên lành thì chớ quên hiểm họa rình rập;
khi đang nắm quyền lợi thì chớ quên nó có thể mất; khi thiên hạ an bình thì chớ
quên loạn lạc có thể xảy ra. Cho nên thân được yên mà quốc gia cũng được bảo
toàn.)
155.
念念有如臨敵日; 心心常似過橋時.
Niệm niệm hữu như lâm địch nhật; Tâm tâm thường tự quá kiều thời.
Luôn nghĩ có ngày như gặp kẻ địch; thường lo âu như lúc đi qua cầu.
CHÚ:
- Tâm tâm niệm niệm 心心念念: Luôn nghĩ đến, canh cánh bên lòng.
- Lâm địch 臨敵: Gặp quân địch.
- Như lâm địch nhật 如臨敵日: Ngày như gặp quân địch, tức là ngày nguy
hiểm.
- Tự quá kiều thời 似過橋時: Lúc như qua cầu.
NGHĨA LÝ:
Cầu ngày xưa là cầu độc mộc, cầu khỉ, nên không an toàn; lúc qua cầu này
phải thận trọng, kẻo rơi xuống sông. Câu này tiếp ý câu 154, là lời khuyên cần
thậntrọng, luôn luôn cảnh giác sự nguy hiểm có thể xảy đến.
156.
英雄行險道; 富貴似花枝.
Anh hùng hành hiểm đạo; Phú quý tự hoa chi.
Anh hùng đi đường hiểm trở; phú quý giống cành hoa.
NGHĨA LÝ:
Anh hùng đi đường hiểm trở, làm việc khó khăn, có thành có bại. Phú quý
không bền vững, giống như cành hoa, có nở có tàn.
157.
人情莫道春光好, 只怕秋來有冷時.
Nhân tình
mạc đạo xuân quang hảo, Chỉ phạ thu lai hữu lãnh thời.
Chớ nói
tình người đẹp như ánh sáng mùa xuân, chỉ sợ khi mùa thu tới thì trở nên lạnh
lùng.
CHÚ:
- Đạo 道: Nói.
- Đạo khả
đạo phi thường Đạo 道可道非常道: Cái Đạo
mà có thể nói (diễn tả) được thì không phải là Đạo hằng thường. (Lão Tử)
NGHĨA LÝ:
Tình người
vốn đổi thay, lúc nồng ấm, lúc lạnh nhạt (nhân tình ấm lạnh).
158.
送君千里, 終須一別.
Tống quân
thiên lý, Chung tu nhất biệt.
Tiễn anh
ngàn dặm, rốt cuộc cũng phải chia tay.
CHÚ:
- Tống 送: Đưa tiễn.
- Quân 君: Tiếng gọi tôn trọng, như nâm 您.
NGHĨA LÝ:
Dù đưa tiễn
xa ngàn dặm, rốt cuộc cũng phải chia tay. Câu này hay được trích dẫn để bảo
người đưa tiễn không cần đi xa (bất tất viễn tống 不必遠送).
159.
但將冷眼看螃蟹, 看你橫行到幾時.
Đãn tương lãnh nhãn khán bàng giải, Khán nễ hoành hành đáo kỷ thời.
Chỉ lạnh lùng nhìn con cua, xem ngươi bò ngang đến lúc nào.
CHÚ:
- Đãn 但: Chỉ 只.
- Lãnh nhãn 冷眼: Ánh mắt lạnh lùng.
- Bàng giải 螃蟹: Con cua (gọi tắt là giải 蟹); bàng kỳ 螃蜞: con cáy.
- Hoành hành 橫行: Bò ngang.
NGHĨA LÝ:
Biết bản chất của kẻ xấu như vậy, nhưng vẫn bình tĩnh để xem nó có thể
lộng hành tới khi nào.
160.
見事莫說; 問事不知.
Kiến sự mạc thuyết; Vấn sự bất tri.
Thấy việc gì thì chớ nói ra; ai hỏi việc gì thì nói không biết.
NGHĨA LÝ:
Lời khuyên đừng nhiễu sự, nên kín miệng.
161.
閒事休管; 無事早歸.
Nhàn sự hưu quản; Vô sự tảo quy.
Việc không can hệ thì chớ quản; rảnh việc thì sớm về nhà.
CHÚ:
- Nhàn sự 閒事: Việc không liên can tới ta (dữ tự kỷ bất tương can đích sự 與自己不相干的事)
NGHĨA LÝ:
Câu này tiếp ý câu 160, xem như quy tắc “bốn không” (thấy gì không nói,
hỏi gì không biết, việc người không quản, không việc thì về sớm) để giữ cho bản
thân yên lành. Ở đời lắm kẻ vì nhiều chuyện mà rước họa vào thân. Họ hay tỏ ra
biết đủ thứ chuyện (dù chỉ là tin đồn), thích can thiệp vào chuyện thiên hạ,
ham làm kẻ phân xử, cố vấn, v.v... Ngờ đâu ách giữa đàng lại quàng vào cổ.
162.
假緞染就真紅色, 也被旁人說是非.
Giả đoạn nhiễm tựu chân hồng sắc, Dã bị bàng nhân thuyết thị phi.
Dù cho lụa nhuộm đúng màu đỏ, vẫn bị kẻ khác nói ra nói vào.
CHÚ:
- Giả 假: Dù cho (giả sử 假使), thậm chí (tức sử 即使).
- Đoạn 緞: Đoạn dệt bằng tơ; lụa là (trù đoạn 綢緞).
- Nhiễm 染: Nhuộm.
- Chân hồng sắc 真紅色: Màu đỏ thực.
- Bàng 旁: Bên cạnh. – Bàng nhân 旁人: Kẻ bên cạnh, người ngoài cuộc, người không
có liên can gì cả.
NGHĨA LÝ:
Thói đời lắm chuyện; dù ta làm đã đúng, vẫn có nhiều kẻ rỗi hơi thích
xía vào việc của ta, lời ra tiếng vào, nói này nói nọ.
163.
善事可作; 惡事莫為.
Thiện sự khả tác; Ác sự mạc vi.
Việc thiện nên làm; việc ác chớ làm.
CHÚ:
Câu này ý nghĩa cũng như câu: Chư ác mạc tác; chúng thiện phụng hành. 諸惡莫作; 眾善奉行. (Không làmmọi điều ác; hãy
làm mọi điều thiện.)
164.
許人一物, 千金不移.
Hứa nhân nhất vật, Thiên kim bất di.
Hứa ai một điều gì, ngàn vàng không đổi ý.
CHÚ:
- Hứa 許: Hứa hẹn, chấp thuận.
- Di 移: Dời đổi.
NGHĨA LÝ:
Câu này đề cao sự thủ tín 守信 (giữ lời). Đã hứa điều gì rồi, dù có ai đem
ngàn vàng đến trao đổi cũng không đổi ý. Tư Trị Thông Giám 資治通鑑 (Đường Kỷ 唐紀) có câu: Trượng phu nhất
ngôn hứa nhân, thiên kim bất dịch. 丈夫一言許人, 千金不易. (Kẻ trượng phu hứa với ai một lời, dù ngàn
vàng vẫn không đổi ý.)
165.
龍生龍子; 虎生豹兒.
Long sinh long tử; Hổ sinh báo nhi.
Rồng sinh ra rồng; Cọp beo sinh ra cọp beo.
CHÚ:
- Hổ 虎: Cọp, hùm.
- Báo豹: Beo.
NGHĨA LÝ:
Nòi nào giống nấy; cha nào con nấy. Ca dao có câu:
Trứng rồng thì nở ra rồng Liu điu thì nở ra dòng liu điu.
Tính cách một cá nhân vốn chịu ảnh hưởng từ cha mẹ. Tuy nhiên xưa nay
vẫn có không ít trường hợp ngược lại mà dân gian bảo là: Mẹ cú con tiên; Cây
đắng sinh trái ngọt.
166.
龍游淺水遭蝦戲; 虎落平陽被犬欺.
Long du thiển thủy tao hà hý; Hổ lạc bình dương bị khuyển khi.
Rồng bơi nước cạn bị tôm giỡn; Cọp xuống đồng bằng bị chó khinh.
CHÚ:
- Du 游: Bơi lội.
- Hà 蝦: Tôm.
- Hý 戲: Giỡn.
- Bình dương 平陽: Chỗ đất bằng, đồng bằng.
NGHĨA LÝ:
Rồng phải bơi trong vực sâu, nay bơi chỗ nước cạn, nên bị tôm giỡn. Cọp
là chúa sơn lâm, lẽ ra phải ở rừng núi, nay lạc xuống đồng bằng, nên bị chó
khinh. Câu này ám chỉ người tài lâm vào hoàn cảnh không phù hợp, nên bị những
kẻ tầm thường bỡn cợt, xem thường.
167.
一舉首登龍虎榜; 十年身到鳳凰池.
Nhất cử thủ đăng Long Hổ bảng; Thập niên thân đáo Phượng Hoàng trì.
Một lần có tên lên đầu bảng Long Hổ; Mười năm đích thân đến ao Phượng
Hoàng.
CHÚ:
- Long Hổ bảng 龍虎榜: Bảng ghi tên thí sinh thi đậu (cử nhân hay tiến sĩ), gọi tắt là long
bảng 龍榜 (bảng rồng), hổ bảng 虎榜 (bảng cọp), hoàng bảng 黄榜 (bảng vàng).
- Phượng Hoàng trì 鳳凰池: Tức Trung Thư tỉnh 中書省, cơ quan soạn thảo sắc lệnh
chiếu chỉ của vua.
NGHĨA LÝ:
Khi có tên trên bảng vàng, tức là sau mười năm khổ học đã được đến gần
vua. Ý nói đường công danh thông suốt.
168.
十年窗下無人問; 一舉成名天下知.
Thập niên song hạ vô nhân vấn; Nhất cử thành danh thiên hạ tri.
Mười năm bên song cửa không ai hỏi; mới thi đậu nên ai cũng biết danh.
CHÚ:
Thập niên song hạ 十年窗下 hay thập tải hàn song 十載寒窗 (mười năm bên song cửa
lạnh) được dùng để chỉ những hàn sĩ khổ học chờ ứng thí.
169.
酒債尋常行處有; 人生七十古來稀.
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu; nhân sinh thất thập cổ lai hy.
Nợ tiền mua rượu đâu không thế; ống bảy mươi năm đã mấy người?
CHÚ:
Đây là hai câu trong bài Khúc Giang 曲江 của Đỗ Phủ 杜甫 (712-770).
朝回日日典春衣; 每日江頭盡醉歸
酒債尋常行處有; 人生七十古來稀
穿花蛺蝶深深見; 點水蜻蜓款款飛
傳語風光共流轉; 暫時相賞莫相違
Triều hồi nhật nhật điển xuân y Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện Ðiểm thủy thanh đình khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển Tạm thời tương thưởng mạc tương
vi.
Tản Đà dịch:
Khỏi bệ vua ra cố áo hoài Bến sông say khướt, tối lần mai
Nợ tiền mua rượu đâu không thế? Sống bảy mươi năm đã mấy người?
Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi
Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.
170.
養兒待老; 積穀防饑.
Dưỡng nhi đãi lão; Tích cốc phòng cơ.
Nuôi con nương tựa lúc già, trữ lúa gạo phòng khi đói.
CHÚ:
- Đãi 待: Đợi chờ, nương tựa.
- Tích 積: Tích chứa, tích trữ.
- Cốc 穀: Lúa gạo, lương thực.
- Ngũ cốc 五穀: đạo 稻 (lúa gié), thử 黍 (lúa mùa), tắc 稷 (lúa tắc), mạch 麥 (lúa tẻ) và thục 菽 (đậu).
- Phòng 防: Dự phòng, đề phòng.
- Cơ 饑: Đói. Năm mất mùa đói kém gọi là: cơ cận 饑饉, cơ hoang 饑荒, cơ niên 饑年.
NGHĨA LÝ:
Quan niệm xưa xem con cái là chỗ nương tựa lúc ta về già; tuy nhiên,
thời nay điều này cũng khó khả thi, vì giới trẻ ít chịu hy sinh phụng dưỡng cha
mẹ già. Nước mắt chảy xuống, nên người già thường cô độc u sầu. Nếu ai già được
con cháu chăm sóc, ấy là may mắn; nói theo tâm linh, đó là hưởng phúc lành từ
kiếp trước.
Cuộc sống cần phải dự phòng cho tương lai, lúc nguy khốn thì có cái
dùng. Do đó, người xưa nói: Tích cốc phòng cơ; tích y phòng hàn. 積穀防饑; 積衣防寒. (Trữ lúa gạo phòng khi
đói; trữ áo ấm phòng khi lạnh.)
171.
雞豚狗彘之畜, 無失其時.
Kê đồn cẩu trệ chi súc, vô thất kỳ thời.
Không giết hại gà, lợn, chó vào mùa chúng sinh sản.
CHÚ:
- Kê 雞: Gà.
- Đồn 豚: Heo, lợn (trư 猪).
- Cẩu 狗: Chó.
- Trệ 彘: Heo, lợn (trư 猪).
- Súc畜: Nuôi, gia súc.
- Vô thất kỳ thời 無失其時: Không mất thời sinh sản của chúng, tức là
nuôi và để chúng sinh sản thì có nguồn lương thực.
NGHĨA LÝ:
Câu này lấy từ sách Mạnh Tử (Lương Huệ Vương, thượng): Kê đồn cẩu trệ
chi súc, vô thất kỳ thời, thất thập giả khả dĩ thực nhục hỹ.
雞豚狗彘之畜, 無失其時, 七十者可以食肉矣. (Không giết hại gà, lợn, chó vào mùa chúng sinh sản, thì người dân bảy
mươi tuổi có thịt để ăn.)
172.
數口之家可以無饑矣.
Sổ khẩu chi gia khả dĩ vô cơ hỹ.
Mỗi hộ dân vài nhân khẩu sẽ không chết đói.
CHÚ:
Câu này tiếp câu 171, lấy từ sách Mạnh Tử (Lương Huệ Vương thượng): Bách
mẫu chi điền, vật đoạt kỳ thời, sổ khẩu chi gia khả dĩ vô cơ hỹ. 百畝之田, 勿奪其時, 數口之家可以無饑矣. (Đối với ruộng một trăm
mẫu, vua chớ cướp mất thời gian canh tác của dân, thì mỗi hộ dân vài nhân khẩu
sẽ không chết đói.) Đây là quan điểm của Mạnh Tử về cải cách kinh tế. Nguyên
văn đoạn này như sau: Bất vi nông thời, cốc bất khả thắng thực dã. Sác cổ bất
nhập ô trì, ngư miết bất khả thắng thực dã. Phủ cân dĩ thời nhập sơn lâm, tài
mộc bấkhả thắng dụng dã. Cốc dữ ngư miết bất khả thắng thực, tài mộc bất khả
thắng dụng, thị sử dân dưỡng sinh táng tử vô hám dã. Dưỡng sinh tang tử vô hám,
vương đạo chi thủy dã. Ngũ mẫu chi trạch, thụ chi dĩ tang, ngũ thập giả khả dĩ
ý bạch hỹ. Kê đồn cẩu trệ chi súc, vô thất kỳ thời, thất thập giả khả dĩ thực
nhục hỹ. Bách mẫu chi điền, vật đoạt kỳ thời, sổ khẩu chi gia khả dĩ vô cơ hỹ.
Cẩn tường tự chi giáo, thân chi dĩ hiếu đễ chi nghĩa, ban bạch giả bất phụ đái
vu đạo lộ hỹ. Thất thập giả ý bạch thực nhục, lê dân bất cơ bất hàn; nhiên nhi
bất vương giả, vị chi hữu dã. 不違農時, 穀不可勝食也. 數罟不入洿池, 魚鱉不可勝食也. 斧斤以時入山林, 材木不可勝用也. 穀與魚鱉不可勝食, 材木不可勝用, 是使民養生喪死無憾也. 養生喪死無憾, 王道之始也. 五畝之宅, 樹之以桑, 五十者可以衣帛矣. 雞豚狗彘之畜, 無失其時, 七十者可以食肉矣. 百畝之田勿奪其時, 數口之家可以無饑矣. 謹庠序之教申之以孝悌之義, 頒白者不負戴于道路矣. 七十者衣帛食肉, 黎民不饑不寒, 然而不王者, 未之有也. (Không làm trái thời canh tác của dân thì
thóc dư ăn; không dùng lưới dày ở ao đầm thì cá và ba ba dư ăn. Tùy theo mùa
mới cho khai thác gỗ rừng thì gỗ dư dùng. Có dư dật thóc, cá, ba ba, cây gỗ để
dùng thì dân nuôi được kẻ sống, chôn được kẻ chết, không có gì ân hận. Đó là
khởi đầu cho vương đạo. Cho dân khu đất năm mẫu để ở và sai trồng dâu xung
quanh nhà thì dân năm mươi tuổi có lụa mặc. Không giết hại gà, lợn, chó vào mùa
chúng sinh sản, thì dân bảy mươi tuổi có thịt để ăn. Đối với ruộng một trăm mẫu,
vua chớ cướp mất thời gian canh tác của dân, thì mỗi hộ dân vài nhân khẩu sẽ
không chết đói. Nếu vua chăm lo việc giáo dục trong các trường học, dạy cho dân
biết hiếu đễ thì những người già không phải khuân vác kiếm ăn ngoài đường. Nếu
người già bảy mươi tuổi được mặc áo lụa, ăn cơm có thịt thà, và người dân đen
không bị đói rét; như thế mà nói bậc cai trị chẳng phải là minh vương thì điều
đó chưa hề có vậy.)
173.
常將有日思無日, 莫待無時思有時.
Thường tương hữu nhật tư vô nhật, mạc đãi vô thời tư hữu thời.
Ngày có thường nghĩ đến ngày không có, chớ đợi khi không có mới nghĩ đến
lúc có.
CHÚ:
Chữ có ở đây ngụ ý có ăn có mặc, có tài sản, sự nghiệp, v.v... Câu này
lấy từ sách Cảnh Thế Thông Ngôn 警世通言 (quyển 25) của Phùng Mộng Long 馮夢龍 (1574-1646) đời Minh.
NGHĨA LÝ: Khuyên lo xa, cũng như câu 154, 155.
174.
時來風送騰王閣, 運去雷轟薦福碑.
Thời lai phong tống Đằng Vương các; Vận khứ lôi oanh Tiến Phúc bi.
Thời tới, gió đưa đến gác Đằng Vương; Vận đi, sét đánh tan bia Tiến
Phúc.
CHÚ:
Đây là câu đối cổ, thường bị gán lầm tác giả là Tô Đông Pha.
Vế trên câu đối lấy ý từ sự kiện gác Đằng Vương tái thiết xong vào năm
675, ở đó tổ chức tranh tài thi phú. Bấy giờ Vương Bột 王勃 (650-676) trên đường vượt
biển tới thăm cha đang làm thứ sử Giao Châu (Việt Nam). Tình cờ một trận gió
lớn thổi bạt thuyền chàng trai đến gác Đằng Vương. Nhân cơ hội ấy Vương Bột
sáng tác bài Đằng Vương Các Tự 滕王閣序 chinh phục tất cả khách làng thơ và lưu danh
thiên cổ. Trong bài đó, có hai câu vẫn được đời truyền tụng: Lạc hà dữ cô vụ tề
phi / Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc. 落霞與孤鶩齊飛 / 秋水共長天一色. (Ráng chiều với cò lẻ cùng bay / Nước thu
cùng trời dài một sắc.)
Vế sau câu đối lấy ý từ giai thoại về tấm bia ở chùa Tiến Phúc, tỉnh
Giang Tây. Trên bia này có tạc thư pháp chữ Hán rất đẹp. Tương truyền vào đời
Tống, có người học trò nghèo xin yết kiến vị quan cai trị huyện Bà Dương (tỉnh
Giang Tây), dâng mấy bài thơ, tự nhận là người đói khổ nhất trần đời, và xin
giúp đỡ. Quan thương tình bèn cấp giấy mực, bảo hàn sĩ rập chữ trên bia rồi lên
kinh thành bán chữ kiếm tiền. Hàn sĩ
chưa kịp rập chữ thì bia ấy bỗng dưng bị sét đánh tan. Người đời cho
rằng Nho sinh ấy đã hết thời rồi nên phải chịu nghèo khổ, dẫu ai có muốn trợ
giúp thì thần linh cũng chẳng khứng.
175.
入門休問榮枯事, 觀看容顏便得知.
Nhập môn hưu vấn vinh khô sự, quan khán dung nhan tiện đắc tri.
Vào nhà ai chớ hỏi chuyện thành bại, cứ nhìn mặt chủ nhà là đủ biết rồi.
CHÚ:
- Vinh khô 榮枯: Cây cỏ tươi tốt và khô héo, ngụ ý hưng suy, may rủi, thành bại.
- Dung nhan 容顏: Vẻ mặt.
NGHĨA LÝ:
Cần tế nhị trong giao tiếp, không nên tò mò chuyện riêng tư của chủ nhà,
trừ phi chủ nhà muốn chia sẻ tâm sự.
176.
官清書吏瘦, 神靈廟祝肥.
Quan thanh thư lại sấu; Thần linh miếu chúc phì.
Quan thanh liêm thì thư lại ốm; Thần linh thiêng thì ông từ mập.
CHÚ:
- Thư lại 書吏: Nhân viên văn thư trong phủ quan.
- Sấu瘦: Gầy ốm.
- Miếu chúc 廟祝: Ông từ giữ miếu, người lo việc nhang khói trong đền miếu, còn gọi là
miếu công 廟公, từ chúc 祠祝.
- Phì 肥: mập.
NGHĨA LÝ:
Quan thanh liêm thì thuộc cấp không dám hành dân vòi tiền, nên thuộc cấp
gầy ốm. Thần miếu có linh thiêng thì đông khách viếng, dâng lễ cúng nhiều, nên
ông từ mập.
177.
息卻雷霆之怒; 罷卻虎狼之威.
Tức khước lôi đình chi nộ; Bãi khước hổ lang chi uy.
Ngừng cơn giận lôi đình; Bỏ oai dữ hùm sói.
CHÚ:
- Tức khước 息卻: Ngừng, bỏ.
- Lôi 雷: Sấm.
- Đình 霆: Sét.
- Lôi đình chi nộ 雷霆之怒: Cơn giận như sấm sét, cơn thịnh nộ, cơn lôi
đình.
- Bãi khước 罷卻: Bãi, bỏ.
- Lang 狼: Chó sói.
- Hổ lang chi uy 虎狼之威: Oai dữ như cọp sói.
NGHĨA LÝ:
Khuyên người có quyền thế cần chế ngự cơn nóng giận và đừng thị uy với
dân lành. Quan nhất thời, dân vạn đại. Trong cơn giận lôi đình và muốn thị uy
quyền lực, kẻ làm quan có thể ra quyết định sai lầm làm hại dân lành. Đối với
người bình thường, nộ (giận dữ) là một trong bảy thứ tình ai cũng có, nhưng để
lửa giận thiêu đốt đến nỗi mất kiểmsoát, người ta có thể làm bất cứ chuyện tệ
hại gì. Đến khi nguôi giận thì hối hận đã muộn.
178.
饒人算之本; 輸人算之機.
Nhiêu nhân toán chi bản; Thâu nhân toán chi cơ.
Khoan dung người là gốc của ứng xử; Thua người là then chốt của ứng xử.
CHÚ:
- Nhiêu 饒: Tha thứ (nhiêu thứ 饒恕, khoan thứ 寬恕, khoan dung 寬容, nguyên lượng 原諒).
– Toán 算: Mưu kế, sách lược, ở đây nên hiểu là sự đối nhân xử thế.
- Toán chi bản 算之本: Cái gốc của ứng xử.
- Thâu 輸: Thua.
- Cơ 機: Then chốt (quan kiện 關鍵).
- Toán chi cơ 算之機: Then chốt của ứng xử.
NGHĨA LÝ:
Khuyên hãy biết khoan dung và chịu thua thiệt trong sự đối nhân xử thế.
179.
好言難得; 惡語易施.
Hảo ngôn nan đắc; Ác ngữ dị thi.
Được người ta khen thì khó; Nói xấu người khác thì dễ.
CHÚ:
- Hảo ngôn 好言: Lời nói tốt, lời khen.
- Nan đắc 難得: Khó có được.
- Ác ngữ 惡語: Lời nói xấu, chê bai ai, gieo tiếng ác cho ai.
- Dị thi 易施: Dễ thi hành.
180.
一言既出, 駟馬難追.
Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.
Một lời đã nói ra, xe bốn ngựa cũng khó đuổi kịp.
CHÚ:
- Tứ 駟: Cỗ xe bốn ngựa.
- Tứ mã 駟馬: Bốn con ngựa kéo cỗ xe này.
NGHĨA LÝ:
Câu 179, 180 khuyên hãy thận ngôn 慎言 (thận trọng lời nói). Lời nói ra khỏi miệng
thì không thu lại được. Tương tự, Luận Ngữ (Nhan Uyên) có câu tứ bất cập thiệt 駟不及舌 (cỗ xe bốn ngựa không bắt
kịp lưỡi).
181.
道吾好者是吾賊; 道吾惡者是吾師.
Đạo ngô hảo giả thị ngô tặc; Đạo ngô ác giả thị ngô sư.
Kẻ nói ta tốt là kẻ hại ta; Kẻ nói ta ác là thầy ta.
CHÚ:
- Đạo 道: Nói.
- Đạo ngô hảo giả 道吾好者: Kẻ nói ta tốt.
- Tặc 賊: Kẻ làm hại (dân tặc 民賊: kẻ hại dân, quốc tặc 國賊: kẻ hại nước); kẻ trộm cướp
(đạo tặc 盜賊).
- Ngô tặc 吾賊: Kẻ hại ta.
- Đạo ngô ác giả 道吾惡者: Kẻ nói ta ác.
- Ngô sư 吾師: Thầy ta.
NGHĨA LÝ:
Thông thường ai bị phê bình, chỉ trích lỗi lầm, cũng nổi giận phát điên.
Thực tế, người thân quen chỉ nói điều tốt của ta, mà bỏ qua (hay không tiện nói
ra) điều xấu của ta. Kẻ ghét ta thấy rõ ưu khuyết điểm của ta, nên lời phê phán
của họ giúp ta nhìn ra khuyết điểm để cải thiện, do đó nên xem họ là thầy.
182.
路逢俠客須呈劍; 不是才人莫獻詩.
Lộ phùng hiệp khách tu trình kiếm; bất thị tài nhânmạc hiến thi.
Trên đường gặp hiệp khách nên khoe kiếm; chẳng phải người tài chớ đọc
thơ.
CHÚ:
- Hiệp khách 俠客: Kiếm sĩ hành hiệp giang hồ.
- Trình呈: Đưa cho xem.
- Tài nhân 才人: Người tài văn chương.
- Hiến 獻: Dâng cho.
NGHĨA LÝ:
Gặp kiếm sĩ khoe kiếm, thì thích hợp, có thể luận về kiếm suốt ngày. Gặp
tài tử văn nhân thì khoe thơ mới thích hợp. Nếu đọc thơ cho kẻ không hiểu biết
thơ ca, khác nào đàn khảy tai trâu.
183.
三 人 行 必 有 我 師 焉. 擇 其 善 者 而 從 之, 其 不 善 者而 改 之.
Tam nhân hành tất hữu ngã sư yên. Trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ
bất thiện giả nhi cải chi.
Ba người cùng đi ắt có kẻ làm thầy ta. Chọn điều tốt mà noi theo, tìm
điều không tốt mà sửa.
CHÚ:
- Yên 焉: Vậy (hư từ cuối câu).
- Trạch 擇: Chọn lựa.
NGHĨA LÝ:
Lấy trong Luận Ngữ (Thuật Nhi), câu này ý nói ta có thể học tập từ điều
tốt và lỗi lầm của người khác. Ai tốt thì ta bắt chước; ai xấu thì ta nhân đó
mà tự sửa mình cho đừng giống họ.
184.
少壯不努力, 老大徒悲傷.
Thiếu tráng bất nỗ lực, Lão đại đồ bi thương.
Trẻ khỏe không gắng sức, lúc già chỉ có đau buồn.
CHÚ:
- Thiếu 少: Trẻ tuổi.
- Tráng 壯: Khỏe mạnh.
- Lão đại 老大: Tuổi già.
- Đồ 徒: Chỉ có.
- Bi 悲: Buồn rầu.
- Thương傷: Thương đau.
NGHĨA LÝ:
Thanh niên trai tráng nên cố gắng học tập, lập thân, gầy dựng sự nghiệp,
kẻo đến già thì sức tàn; bấy giờ có muốn làm gì cũng không nổi, chỉ có đau buồn
thôi.
185.
人有善願, 天必祐之.
Nhân hữu thiện nguyện, Thiên tất hựu chi.
Ai có ý nguyện lành, Trời ắt giúp đỡ.
CHÚ:
- Hựu 祐: Giúp đỡ, phù hộ. Thần Minh phù hộ con người gọi là hựu 祐 (bộ thị 示); người mạnh giúp người yếu
gọi là hựu 佑 (bộ nhân 亻); người dưới giúp người trên gọi là tá 佐 (phò tá). Phù 扶 và bật 弼 là giúp đỡ bên cạnh, nên nói tả phù hữu bật 左扶右弼. Nói chung là: bang trợ 幫助 (giúp đỡ).
NGHĨA LÝ:
Người xưa nói: Hoàng Thiên bất phụ hữu tâm nhân. 皇天不負有心人. (Trời không phụ kẻ có
lòng.) Ai có nguyện lành đều được Trời phù hộ.
186.
莫飲卯時酒, 昏昏醉到酉.
Mạc ẩm Mão thời tửu, hôn hôn túy đáo Dậu.
Chớ uống rượu sáng sớm, kẻo say đến chiều tối.
CHÚ:
- Mão thời 卯時: Giờ Mão, giờ Mẹo (từ 5 đến 7 giờ sáng).
- Dậu thời 酉時: Giờ Dậu (từ 5 đến 7 giờ chiều). Cách tính giờ theo mười hai địa chi
ứng với hai mươi bốn giờ phương Tây: Tý (11 giờ tối hôm trước đến 1 giờ sáng
hôm sau), Sửu (từ 1 giờ đến 3 giờ sáng), v.v... tức là một giờ theo địa chi ứng
với hai tiếng đồng hồ của phương Tây.
– Hôn hôn 昏昏: Mê man, u tối.
– Túy 醉: Say rượu.
- Dậu酉 cổ văn viết là 丣. Chữ dậu 酉 kiểu chữ triện có hình dáng cái bình đựng rượu, nên dùng như chữ tửu酒. Các chữ tửu 酒 (rượu), túy 醉 (say), tỉnh 醒 (tỉnh rượu) đều có bộ dậu酉, ngụ ý là liên quan đến
rượu. Chữ y醫 (trị bệnh) cũng có bộ dậu (rượu vốn là dược liệu), còn có 医 (hộp đựng mũi tên để chích
lễ), và thù 殳(bắn, đánh đuổi tà); hoặc thầy lang dùng mũi tên bắn tà ma gây dung mạo
xấu, vì chữ y 殹 nghĩa là dung mạo xấu (ác tư 惡姿).
187.
莫罵酉時妻, 一夜受孤淒.
Mạc mạ Dậu thời thê, Nhất dạ thụ cô thê.
Chớ mắng vợ chiều tối, kẻo suốt đêm lạnh chèo queo.
CHÚ:
- Mạ 罵: Mắng.
- Thụ 受: Nhận lấy.
- Cô 孤: Cô độc, lẻ loi.
- Thê 淒: Lạnh lẽo, thê lương 淒涼.
NGHĨA LÝ:
Chồng mắng vợ giờ Dậu (tức 5 đến 7 giờ chiều) thì vợ giận cho nằm riêng,
chồng suốt đêm một mình chịu lạnh lẽo. Ở đây chơi chữ đồng âm thê 妻 (vợ) và thê 淒(lạnh); trong chữ thê 淒 cũng có chữ thê妻.
188.
種麻得麻, 種豆得豆. 天網恢恢, 疏而不漏.
Chủng ma đắc ma, chủng đậu đắc đậu.Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu.
Trồng mè được mè, trồng đậu được đậu. Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng
không bỏ sót.
CHÚ:
- Ma麻: Vừng, mè.
- Đậu 豆: Đậu, đỗ.
- Võng 網: Lưới. Lưới để săn bắt gọi là võng網 và cổ 罟. Võng 網 hay đồng 罿 chỉ chung các loại lưới săn bắt chim, thú, và
cá. Lưới bắt chim và thú gọi là phù 罘, phù 罦, thư罝. – Cổ 罟 chuyên chỉ lưới đánh cá (ngư võng 魚網); lưới cá loại lớn gọi là
cô 罛. - La羅chuyên chỉ lưới săn bắt chim. Người ta hay nói thiên la địa võng 天羅地網.
- Khôi 恢: To lớn, bao la.
- Sơ 疏: Thưa, không kín.
- Lậu 漏: Lọt, rò rỉ.
NGHĨA LÝ:
Theo luật nhân quả, gieo gì gặt đó. Sự báo ứng là có thật, không ai
tránh được. Vế trước có dị bản: Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu. 種瓜得瓜, 種豆得豆. (Trồng dưa được dưa, trồng
đậu được đậu.) Vế sau lấy từ Lão Tử Đạo Đức Kinh (chương 73): Thiên võng khôi
khôi, sơ nhi bất thất. 天網恢恢, 疏而不失. (Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng không để lọt mất.)
189.
見官莫向前; 做客莫在後.
Kiến quan mạc hướng tiền; Tố khách mạc tại hậu.
Thấy quan chớ đối mặt; Làm khách chớ ở đằng sau.
NGHĨA LÝ:
Quan thời phong kiến hiếm khi yêu dân, nên dân sợ như sợ tà, do đó gặp
quan thì nên né đi, đừng đối mặt.Đến nhà ai làm khách thì phải quang minh chính
đại ở ngay phòng khách, chớ nên lủi thủi ở nhà sau kẻo bị hiểu lầm.
190.
寧添一斗, 莫添一口.
Ninh thiêm nhất đấu, Mạc thiêm nhất khẩu.
Thà thêm một đấu lương thực, chớ thêm một miệng ăn.
CHÚ:
- Thiêm 添: Thêm (họa xà thiêm túc 畫蛇添足: vẽ rắn thêm chân).
- Đấu 斗: Đơn vị đo lường lương thực. (Chữ 斗 đọc là đẩu, tên sao Bắc Đẩu 北斗).
- Khẩu 口: Miệng ăn (nhân khẩu 人口).
NGHĨA LÝ:
Đối với gia đình nghèo, thà thêm lương thực chứ không thêm miệng ăn. Do
dân số bùng nổ, ai cũng muốn hạn chế sinh sản, trừ những gia đình hiếm muộn.
191.
螳螂捕蟬, 豈知黃雀在後.
Đường lang bổ thiền, khởi tri hoàng tước tại hậu.
Bọ ngựa rình bắt ve sầu, nào biết chim sẻ rình phía sau.
CHÚ:
- Đường lang 螳螂: Bọ ngựa, ngựa trời.
- Bổ 捕: Bắt, tóm.
- Thiền 蟬: Ve sầu.
- Hoàng tước 黃雀: Chim sẻ.
NGHĨA LÝ:
Câu này lấy ý từ sách Thuyết Uyển 說苑 (quyển 9) của Lưu Hướng 劉向 (77-6 trước Công Nguyên).
Sách kể chuyện ngụ ngôn: Con bọ ngựa muốn bắt ve sầu nhưng không biết phía sau
có chim sẻ muốn mổ nó, mà chim sẻ lại không biết có người đang muốn bắn đạn nó.
Đại ý là nhiều người chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên cái hại sau lưng.
192.
不求金玉重重貴, 但願兒孫個個賢.
Bất cầu kim ngọc trùng trùng quý, Đãn nguyện nhi tôn cá cá hiền.
Chẳng cầu vàng ngọc quý vô vàn, chỉ mong con cháu đều hiền ngoan.
CHÚ:
- Trùng trùng 重重: Dồi dào, rất nhiều.
- Cá cá 個個: Từng đứa.
NGHĨA LÝ:
Có người cầu mong giàu sang nứt đố đổ vách, nhưng cũng có người chỉ mong
con cháu đứa nào cũng ngoan hiền là đủ.
193.
一日夫妻, 百世姻緣.
Nhất nhật phu thê, bách thế nhân duyên.
Một ngày nên vợ chồng, là nhân duyên từ trăm đời.
NGHĨA LÝ:
Theo thuyết định mệnh, vợ chồng không phải ngẫu hợp, mà là do nhân duyên
từ kiếp trước, thậm chí trăm đời trước. Cũng có quan niệm cho rằng vợ chồng là
món nợ tiền khiên, không phải oan gia, trái chủ thì không gặp nhau để mà trả nợ
kiếp trước.
194.
百世修來同船渡; 千世修來共枕眠.
Bách thế tu lai đồng thuyền độ; Thiên thế tu lai cộng chẩm miên.
Tu trăm đời mới đi chung thuyền; tu ngàn đời mới cùng chung gối ngủ.
CHÚ:
- Tu 修: Tu hành.
- Độ 渡: Qua sông.
- Chẩm 枕: Cáigối.
- Miên 眠: Ngủ.
NGHĨA LÝ:
Câu này nói tiếp câu 193, cho rằng vợ chồng hòa hợp hạnh phúc (tốt đôi)
là do nhân lành duyên phước đã vun đắp từ rất nhiều kiếp trước.
195.
殺敵一萬, 自損三千.
Sát địch nhất vạn, tự tổn tam thiên.
Giết một vạn quân địch, ta tổn thất ba ngàn quân.
NGHĨA LÝ:
- Một vạn là mười ngàn. Địch chết mười ngàn quân, ta mất ba ngàn quân.
Trong chiến tranh luôn có thắng bại, được mất. Quan trọng là phải có chiến
thuật và mưu kế để hạn chế tối đa tổn thất cho quân ta. Câu này bị gán lầm là
lấy từ Tôn Tử Binh Pháp.
196.
傷人一語, 利如刀割.
Thương nhân nhất ngữ, lợi như đao cát.
Một lời nói hại người, bén như dao cắt.
CHÚ:
- Lợi
利: sắc bén.
- Cát 割: Cắt.
NGHĨA LÝ:
Miệng lưỡi con người cũng có thể làm kẻ khác tổn thương đau đớn như bị
gươm dao đâm chém. Bão Phác Tử Ngoại Thiên 抱朴子外篇 (Tật Mậu 疾謬) có câu: Thương nhân chi ngữ hữu kiếm kích
chi thống. 傷人之語有劍 戟之痛. (Lời nói hại người gây đau đớn như gươm kích đâm.) Theo Phật Giáo,
trong mười nghiệp ác (thập ác nghiệp 十惡業) do thân, khẩu, ý gây ra, thì: 1/ thân nghiệp
身業 có ba: dâm 淫 (dâm dục), sát殺 (sát sinh), đạo 盜 (trộm cắp); 2/ ý nghiệp意業 có ba: tham 貪 (tham lam), sân 瞋 (giận), si 癡 (ngu si); 3/ khẩu nghiệp 口業 có bốn: vọng ngữ 妄語 (nói láo), lưỡng thiệt 兩舌 (nói lời gây chia rẽ), ỷ
ngữ 綺語 (nói thêu dệt phóng đại), ác khẩu 惡口 (nói ác). Một lời làm hại người, tức là ác
khẩu. Ở đây có ý khuyên hãy thận ngôn.
197.
枯木逢春猶再發; 人無兩度再少年.
Khô mộc phùng xuân do tái phát; Nhân vô lưỡng độ tái thiếu niên.
Cây khô mùa xuân tươi tốt lại; người chẳng hai lần được trẻ trung.
CHÚ:
– Khô mộc 枯木: Cây khô.
– Phùng xuân 逢春: Gặp mùa
xuân.
– Do
猶: Giống như.
– Tái phát 再發: Phát triển, tươi tốt
trở lại.
– Lưỡng độ 兩度: Hai lần.
– Tái thiếu niên 再少年: Trở lại thời trẻ trung.
NGHĨA LÝ:
Cây khô còn hồi xuân, nhưng với con người thì thời gian trôi qua là qua
luôn; tuổi thanh xuân đã mất thì không thể trở lại. Câu này khuyên người trẻ
biết quý tuổi xuân của mình, đừng để trôi qua lãng phí.
198.
未晚先投宿, 雞鳴早看天.
Vị vãn tiên đầu túc; Kê minh tảo khán thiên.
Trời chưa tối trước tiên tìm chỗ trọ; Gà gáy rồi sáng sớm nhìn trời.
CHÚ:
– Túc宿: Trọ, nghỉ qua đêm.
– Đầu túc 投宿: Tìm chỗ trọ.
– Kê minh 雞鳴: Gà gáy.
NGHĨA LÝ:
Kinh nghiệm người xưa đi đâu xa nhà là trước khi trời tối phải mau tìm
chỗ trọ nghỉ qua đêm, kẻo lỡ bước giữa đồng không mông quạnh. Lúc nghe gà gáy
sáng sớm thì nhìn bầu trời mà dự đoán thời tiết để lên đường cho an toàn.
199.
將相頂頭堪走馬; 公侯肚裏好撐船.
Tướng tướng đỉnh đầu kham tẩu mã; Công hầu đỗ lý hảo sanh thuyền.
Trên đầu quan tướng ngựa chạy được; Trong bụng công hầu dễ chống thuyền.
CHÚ:
– Tướng 將: Tướng quân.
– Tướng 相: Tể tướng.
– Kham 堪: Có thể.
– Công hầu 公侯: Tước công và tước hầu. Xã hội phong kiến có năm tước vị từ cao xuống
thấp: công 公 (duke), hầu (marquis), bá 伯 (earl), tử 子 (viscount), nam 男 (baron).
– Đỗ 肚: Bụng.
– Sanh 撐: Chèo chống, chống đỡ.
NGHĨA LÝ:
Câu này nói quá (thậm xưng) một chút khi bảo đỉnh đầu các tướng rộng đủ
cho ngựa chạy và bụng của các quan chức rộng rãi có thể chèo thuyền được. Ngụ ý
rằng tài trí của các quan chức phải lớn và tấm lòng của quan chức phải bao la.
200.
富人思來年; 窮人思眼前.
Phú nhân tư lai niên; Cùng nhân tư nhãn tiền.
Người giàu nghĩ chuyện lâu dài; người nghèo lo chuyện trước mắt.
CHÚ:
– Phú nhân 富人: Người giàu.
– Lai niên 來年: Năm tới, năm sau.
– Cùng nhân 窮人: Người nghèo, bần cùng.
– Nhãn tiền 眼前: Trước mắt.
NGHĨA LÝ:
Mỗi người một hoàn cảnh thì tâm tư khác nhau. Người giàu không lo cơm
áo, nên tính chuyện tương lai, kế hoạch lâu dài. Người nghèo chỉ quan tâm cơm
áo, là chuyện trước mắt, ăn bữa sáng lo bữa tối.
201.
世上若要人情好, 賒去物件莫取錢.
Thế thượng nhược yếu nhân tình hảo, Xa khứ vật kiện mạc thủ tiền.
Trên đời nếu muốn giữ tình cảm tốt đẹp, ai mua thiếu món đồ gì thì đừng
lấy tiền của họ.
CHÚ:
– Nhược yếu 若要: Nếu muốn.
– Xa 賒: Mua hay bán cho thiếu chịu.
– Xa khứ vật kiện 賒去物件: Bán chịu món đồ.
– Thủ tiền 取錢: Thu tiền, lấy tiền.
NGHĨA LÝ:
Mua chịu là cực chẳng đã, nên ai quen biết mà mua chịu thì nên du di,
không đòi tiền, như vậy giữ được tình cảm tốt đẹp.
202.
死生有命; 富貴在天.
Tử sinh hữu mệnh; phú quý tại thiên.
Sống chết có số mệnh; giàu sang là do Trời.
NGHĨA LÝ:
Theo thuyết định mệnh, sống chết và giàu
nghèo đều là do số mệnh, do Trời định. Nếu tin vậy thì con người không
còn sức phấn đấu nữa. Cho nên cũng có người lạc quan chủ trương tuy có số mệnh,
nhưng nhân định thắng Thiên 人定勝天 (người quyết định, vượt qua ý Trời), hoặc tận
nhân lực, tri Thiên mệnh 盡人力, 知天命(cứ hết sức làm, rồi hãy biết mệnh Trời).
203.
擊石原有火, 不擊乃無煙. 人學始知道, 不學亦徒然.
Kích thạch nguyên hữu hỏa, Bất kích nãi vô yên.
Nhân học thủy tri đạo, Bất học diệc đồ nhiên.
Đánh đá bật ra lửa, Không đánh thì không khói.
Có học mới hiểu biết, Không học cũng phí hoài.
CHÚ:
– Kích 擊: Đánh đập.
– Thạch 石: Ở đây là toại thạch 燧石 (đá lửa, flint).
– Nguyên 原: Vốn là.
– Yên 煙 (烟): Khói.
– Thủy 始: Mới (phương 方, tài 才).
– Đồ nhiên 徒然: Uổng, phí, hoài (uổng nhiên 枉然).
Các bản đều chép như trên, nhưng đó là chế biến từ bài thơ Khuyến Học 勸學 của Mạnh Giao 孟郊 (751-814). Bài thơ như sau:
擊石乃有火不擊元無煙
人學始知道不學非自然
萬事須己運 他得非我賢
青春須早為豈能長少年.
Kích thạch nãi hữu hỏa Bất kích nguyên vô yên
Nhân học thủy tri đạo Bất học phi tự nhiên
Vạn sự tu kỷ vận Tha đắc phi ngã hiền
Thanh xuân tu tảo vi Khởi năng trường thiếu niên.
Đánh đá bật lửa ra Không đánh thì không khói
Có học mới hiểu biết Không học chẳng tự biết
Mọi sự thời vận ta Người được, ta chẳng được
Còn trẻ nên học sớm Lẽ nào trẻ hoài sao?
204.
莫 笑 他 人 老; 終 須 還 到 老.
Mạc tiếu tha nhân lão; Chung tu hoàn đáo lão.
Chớ cười kẻ khác già; Rốt cuộc ai cũng phải già.
NGHĨA LÝ:
Người già thường bị chê lẩm cẩm này nọ, nhưng thiên hạ quên rằng rốt
cuộc ai cũng phải già và lẩm cẩm y như vậy.
205.
但 能 依 本 分, 終 須 無 煩 惱.
Đãn năng y bổn phận, Chung tu vô phiền não.
Hễ làm y bổn phận, rốt cuộc không lo buồn.
CHÚ:
Đãn 但: Hễ, nếu, phàm.
NGHĨA LÝ:
Việc gì cũng vậy, cứ theo đúng phận sự của mình mà làm thì không ai
trách phạt mình, cho nên mình không bị phiền não.
206.
君子愛財, 取之有道.
Quân tử ái tài, Thủ chi hữu đạo.
Quân tử yêu tiền tài, lấy tiền tài phải có đạo lý.
NGHĨA LÝ:
Quân tử yêu tiền tài, cũng bình thường thôi. Chẳng lẽ quân tử chỉ sống
bằng nước lã? Nhưng có tiền tài phải chính đáng, đúng đạo lý.
207.
貞婦愛色, 納之以禮.
Trinh phụ ái sắc, Nạp chi dĩ lễ.
Phụ nữ trinh tiết chuộng sắc đẹp, trau chuốt theo lễ giáo.
NGHĨA LÝ:
Phụ nữ ai cũng muốn làm đẹp, nhưng cần theo lễ, đừng ăn mặc trang điểm
lố lăng là được.
208.
善有善報, 惡有惡報; 不是不報, 日子未到.
Thiện hữu thiện báo, Ác hữu ác báo; Bất thị bất báo, Nhật tử vị đáo.
Thiện có báo ứng thiện, ác có báo ứng ác; không phải không có báo ứng,
mà ngày ấy chưa tới thôi.
NGHĨA LÝ:
Câu này cải biên từ một câu trong Kinh Lăng Nghiêm: Thiện hữu thiện báo,
ác hữu ác báo; mạc ngôn bất báo, thời hậu vị đáo.
善有善報, 惡有惡報; 莫言不報, 時候未到.
(Thiện có báo ứng thiện, ác có báo ứng ác; đừng nói không có báo ứng,
chỉ là chưa tới lúc thôi.)
209.
人而無信, 不知其可也.
Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã.
Người mà không uy tín, không biết hắn làm được gì.
CHÚ:
Đây là lời Khổng Tử, trích từ Luận Ngữ (Vi Chính).
210.
一人道虛, 千人傳實.
Nhất nhân đạo hư, thiên nhân truyền thực.
Một người nói điều không thực, Ngàn người lan truyền thành sự thực.
CHÚ:
Câu này chế biến từ một câu trong sách Tiềm Phu Luận 潛夫論 của Vương Phù 王符 (khoảng 85-163) đời Hán:
Nhất nhân truyền hư, vạn nhân truyền thực.
一人傳虛, 萬人傳實.
(Một người truyền điều không thực, vạn người lan truyền thành sự thực.)
NGHĨA LÝ:
Chuyện không có thực mà rất nhiều người lan truyền đi thì nó trở thành
sự thực. Đây cũng là phương pháp của Joseph Goebbels (1897-1945), ông trùm
tuyên truyền của Quốc Xã Đức: “Hãy làm cho lời dối trá thành tựu, hãy làm cho
nó đơn giản, cứ lặp đi lặp lại nó, và cuối cùng thiên hạ sẽ tin nó.” (Make the
lie big, make it simple, keep saying it, and eventually they will believe it.)
Cổ Học Tinh Hoa (quyển nhất, bài 12) của Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) và
Trần Lê Nhân (1888-1975) bình luận về tin đồn “Tăng Sâm giết người” như sau:
Tăng Sâm [học trò giỏi của Đức Khổng Tử] vốn là người hiền hậu, hiếu
thảo; bà mẹ vốn là người trung tín, một bụng tin con. Đột nhiên có kẻ bảo:
“Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ không tin; người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến
người thứ ba bảo thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của
thiên hạ rất là mạnh. Một việc, dù cho sai lầm đến mười mươi, nhiều người đã
cùng có một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến cho ta nghi nghi hoặc
hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải (...).
211.
凡事要好, 須問三老.
Phàm sự yếu hảo, tu vấn tam lão.
Hễ muốn việc cho tốt, phải hỏi ba cụ già.
NGHĨA LÝ:
Người già trải đời, rành lễ nghi, kinh nghiệm sống nhiều, cho nên muốn
sự việc được tốt thì phải tham khảo ý kiến các cụ già.
212.
若爭小可, 便失大道.
Nhược tranh tiểu khả, tiện thất đại đạo.
Nếu tranh chấp chuyện vụn vặt, sẽ làm mất việc lớn.
CHÚ:
Tiểu khả 小可: Tầm thường 寻常, không quan trọng (bất trọng yếu 不重要).
213.
年年防饑; 夜夜防盜.
Niên niên phòng cơ; Dạ dạ phòng đạo.
Năm nào cũng phòng đói; Đêm nào cũng phòng trộm.
CHÚ:
Phòng 防: Phòng ngừa, canh phòng.
NGHĨA LÝ:
Đề cao sự cảnh giác, lo xa, dự phòng sự việc có thể xảy ra để đối phó.
214.
學者如禾如稻; 不學者如藁如草.
Học giả như hòa như đạo; Bất học giả như cảo như thảo.
Người có học như lúa như thóc; Người vô học như rơmnhư cỏ.
CHÚ:
– Hòa 禾: Cây lúa. – Đạo 稻: Lúa, thóc.
– Cảo 藁 (稿): Rơm rạ. – Thảo 草: Cỏ.
NGHĨA LÝ: Người có học quý hơn người vô học.
215.
遇飲酒時須飲酒; 得高歌處且高歌.
Ngộ ẩm tửu thời tu ẩm tửu; Đắc cao ca xứ thả cao ca.
Gặp lúc uống rượu nên uống rượu; Được chỗ hát vang thì hát vang.
NGHĨA LÝ:
Nên hòa đồng với mọi người. Gặp cuộc vui thì hãy cùng vui với họ.
216.
因風吹火, 用力不多.
Nhân phong xuy hỏa, Dụng lực bất đa.
Nhân lúc gió thổi lửa, ta dùng sức không nhiều.
NGHĨA LÝ:
Gặp hoàn cảnh thay đổi thì nên lợi dụng nhân tố khách quan sẵn có, để
không phí sức.
Câu này lấy từ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục 景德傳燈錄 (quyển 13) của Thích Đạo Nguyên 釋道原 đời Tống:
Vấn: Như hà thị lâm cơ nhất cú? Sư viết: Nhân phong xuy hỏa, dụng lực
bất đa.
問: 如何是臨機一句? 師曰: 因風吹火用力不多.
(Có người hỏi: “Một câu nói thế nào về tình huống thay đổi?” Sư đáp:
“Nhân lúc gió thổi lửa, ta dùng sức không nhiều.”)
217.
不因漁父引, 怎得見波濤.
Bất nhân ngư phụ dẫn, Chẩm đắc kiến ba đào.
Không nhờ ngư ông dẫn lối, làm sao thấy được sóng nước.
CHÚ:
– Ngư phụ 漁父: Người đánh cá (ngư ông 漁翁, ngư phu 漁夫).
– Chẩm 怎: Làm sao, thế nào.
– Ba 波: Sóng nhỏ (đào 濤, lãng 浪: sóng lớn).
NGHĨA LÝ:
Ngư ông mưu sinh trên sông nước nên rành sóng nước. Nhờ ngư ông dẫn
đường, nên thấy được sóng. Ngụ ý làm việc gì cũng phải nhờ đúng người có chuyên
môn.
218.
無求到處人情好; 不飲從他酒價高.
Vô cầu, đáo xứ nhân tình hảo; Bất ẩm, tòng tha tửu giá cao.
Không cầu, đến đâu tình người cũng tốt; Không uống, tùy ai uống rượu đắt
tiền mặc lòng.
NGHĨA LÝ:
Ta không cầu xin ai, quan hệ bình đẳng với mọi người, thì đến nơi nào
tình cảm cũng tốt đẹp. Nếu ta cầu xin nhờ vả ai, quan hệ sẽ khác, họ sẽ dè dặt
hay lạnh nhạt với ta. Ta không uống rượu, thì ai uống rượu đắt tiền mặc lòng.
219.
知事少時煩惱少; 識人多處是非多.
Tri sự thiểu thời phiền não thiểu; Thức nhân đa xử thị phi đa.
Biết ít thì ít phiền não; Biết nhiều thì lắm thị phi.
NGHĨA LÝ:
Càng biết ít chuyện thì càng ít phiền phức. Kẻ biết nhiều chuyện thì
phải xử lý lắm chuyện thị phi.
220.
入山不怕傷人虎; 只怕人情兩面刀.
Nhập sơn bất phạ thương nhân hổ; Chỉ phạ nhân tình lưỡng diện đao.
Lên núi không sợ cọp hại người; Trong tình người chỉ sợ có dao hai lưỡi.
CHÚ:
Lưỡng diện đao 兩面刀: Dao hai lưỡi (không có sống dao), ám chỉ thủ đoạn mưu kế giảo hoạt.
NGHĨA LÝ:
Lên núi, biết sẽ có cọp dữ, nhưng ta không sợ vì đã đề phòng rồi. Trong
giao tiếp người với người, chỉ sợ thủ đoạn kẻ tiểu nhân, vì ta không lường trước
được.
221.
強中自有強中手; 惡人須用惡人磨.
Cường trung tự hữu cường trung thủ; Ác nhân tu dụng ác nhân ma.
Cứng cỏi ắt có người cứng cỏi hơn; Kẻ ác cần dùng kẻ ác trị.
CHÚ:
– Cường trung 強中: Cứng cỏi; trong y học là chứng bệnh đàn ông cương cứng kéo dài và tinh
dịch không tiết ra (priapism).
– Ma 磨: Chà xát, mài.
NGHĨA LÝ:
Người giỏi ắt có kẻ giỏi hơn. Đối với kẻ ác thì dùng kẻ ác trị nó. Tam
Quốc Diễn Nghĩa (cuối hồi 17) có câu tương tự:
Cường trung tự hữu cường trung thủ; dụng trá hoàn phùng thức trá nhân.
強中自有強中手; 用詐還逢識詐人.
(Cứng cỏi ắt có người cứng cỏi hơn; dối trá rồi gặp kẻ dối trá hơn.)
Phan Kế Bính (1875-1921) dịch thoát: Đã khôn gặp phải người khôn nữa / Hay dối
trêu ngay kẻ dối hơn.
222.
會使不在家豪富; 風流不在著衣多.
Hội sử bất tại gia hào phú; Phong lưu bất tại trước y đa.
Biết chi tiêu đâu cứ nhà giàu có; Vẻ phong lưu đâu cứ mặc áo nhiều.
CHÚ:
– Hội sử 會使: Biết sử dụng, biết dùng tiền, biết ăn xài.
– Hào phú 豪富: Rất giàu.
– Trước y 著(着)衣: Mặc y phục.
NGHĨA LÝ:
Biết chi tiêu không liên quan nhà giàu hay nghèo. Khéo ăn mặc ra dáng
phong lưu không liên quan việc có y phục nhiều hay ít.
223.
光陰似箭; 日月如梭.
Quang âm tự tiễn; Nhật nguyệt như toa.
Thời gian như tên bay; Ngày tháng như thoi đưa.
CHÚ:
– Quang âm 光陰: Thời gian.
– Tiễn 箭: Mũi tên.
– Nhật nguyệt 日月: Mặt trời và mặt trăng, chỉ ngày tháng.
– Toa (thoa) 梭: Cái thoi dệt vải.
NGHĨA LÝ:
Thời gian trôi qua nhanh như tên bắn, và không quay lại. Ngày tháng thấm
thoát tuần hoàn như cái thoi đưa qua đưa lại. Hãy yêu quý thời gian và tuổi
trẻ, từ đó biết gầy dựng tương lai, sự nghiệp.
224.
天時不如地利; 地利不如人和.
Thiên thời bất như địa lợi; Địa lợi bất như nhân hòa.
Thiên thời không bằng địa lợi; Địa lợi không bằng nhân hòa.
CHÚ:
– Thiên thời 天時: 1/ Thời cơ tốt đẹp tự nhiên; 2/ thời tiết bốn mùa.
– Địa lợi 地利: Hoàn cảnh địa lý thuận lợi.
– Nhân hòa 人和: Dân chúng đoàn kết, hòa thuận.
NGHĨA LÝ:
Câu này lấy từ sách Mạnh Tử (Công Tôn Sửu, hạ). Tam tài 三才 (thiên địa nhân) đều tốt
thì việc cai trị đất nước mới tốt, mà trong đó nhân hòa (dân đoàn kết, hòa
thuận) là yếu tố quan trọng nhất, là căn bản của vương đạo. Chữ vương 王 (vua) gồm nét sổ | nối ba
vạch ngang 三 (chữ tam 三, tức tam tài), ngụ ý bậc làm vua phải quan tâm ba yếu tố thiên thời,
địa lợi, nhân hòa.
Tuân Tử cũng xem trọng ba yếu tố này, ví vua cũng như nông phu tiết kiệm
năng lực. Sách Tuân Tử (Vương Bá) chép: Nông phu phác lực nhi quả năng, tắc
thượng bất thất thiên thời, hạ bất thất địa lợi, trung đắc nhân hòa, nhi bách
sự bất phế 農夫朴力而寡能, 則上不失天時, 下不失地利, 中得人和, 而百事不廢. (Nhà nông muốn tiết kiệm năng lực thì trên không mất thiên thời, dưới
không mất địa lợi, giữa được nhân hòa, mà trăm sự không hư mất).
225.
黃金未為貴; 安樂値錢多.
Hoàng kim vị vi quý; An lạc trị tiền đa.
Vàng ròng chưa là quý; An lạc đáng giá hơn.
CHÚ:
– An lạc 安樂: yên vui (bình an khoái lạc 平安快樂).
– Trị tiền đa 値錢多: Trị giá nhiều tiền, đáng giá hơn.
NGHĨA LÝ:
Vàng ròng kể ra cũng là quý, nhưng yên vui còn quý hơn, đáng giá hơn rất
nhiều. Chẳng hạn sống trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, hoạn nạn và đau
thương thì vàng cũng chẳng để làm gì, cũng chẳng đổi lấy được tính mạng của
mình.
226.
萬般皆下品, 唯有讀書高.
Vạn ban giai hạ phẩm, Duy hữu độc thư cao.
Mọi thứ đều thấp kém, Chỉ có đọc sách là thanh cao.
CHÚ:
– Ban 般: Thứ, loại, hạng.
– Hạ phẩm 下品: Hạ đẳng, hạng thấp kém.
NGHĨA LÝ:
Đề cao việc đọc sách vì nó mở mang trí tuệ và giáo dục con người.
227.
世間好語書說盡; 天下名山僧佔多.
Thế gian hảo ngữ thư thuyết tận; Thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa.
Lời hay ý đẹp trên đời, sách đã nói hết cả; Núi non danh tiếng thiên hạ,
sư chiếm nhiều rồi.
CHÚ:
– Chiếm 佔: Chiếm đoạt, chiếm giữ.
– Danh sơn 名山: Núi nổi tiếng.
NGHĨA LÝ:
Bao nhiêu lời hay ý đẹp đạo lý trên đời thì kinh sách đã nói hết rồi.
Những ngọn núi nổi tiếng thường có rất nhiều chùa chiền của sư tăng và đạo quán
của đạo sĩ. Do đó mới nói núi nổi tiếng sư chiếm nhiều.
228.
為善最樂; 為惡難逃.
Vi thiện tối lạc; Vi ác nan đào.
Làm lành vui sướng nhất; Làm ác khó chạy thoát.
CHÚ: Đào
逃: Chạy trốn (đào tẩu 逃走), chạy thoát (đào thoát 逃脫).
NGHĨA LÝ:
Người làm thiện vui sướng vì giúp được người hoạn nạn. Kẻ làm ác thì sớm
muộn gì cũng bị trừng phạt, hoặc do pháp luật quốc gia, hoặc do luật nhân quả
báo ứng. Luật người có thể thoát, luật Trời khó thoát. Lưới Trời bao la tuy
thưa nhưng không để sót ai (Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu 天網恢恢, 疏而不漏), cho nên không ai chạy
thoát khỏi lưới trời (thiên võng nan đào 天網難逃).
229.
羊有跪乳之恩; 鴉有反哺之義.
Dương hữu quỵ nhũ chi ân; Nha hữu phản bộ chi nghĩa.
Con dê con có cái ơn quỳ bú mẹ; Con quạ có cái nghĩa mớm mồi cho chim mẹ
già.
CHÚ:
– Nhũ 乳: Sữa; bú sữa; cho bú.
– Quỵ nhũ 跪乳: Quỳ bú sữa. Con dê con khi bú mẹ quỳ hai chân trước, đầu đội một vú,
miệng ngậm vú kia, tỏ ý biết ơn mẹ. – Nha 鴉: Quạ.
– Bộ哺: Mớm cho ăn.
– Phản bộ 反哺: Chim còn non thì chim mẹ mớm mồi cho; khi chim mẹ già yếu, chim con đã
lớn biết bay tìm mồi về mớm cho chim mẹ. Như con còn nhỏ, mẹ đút cơm cho con;
khi mẹ già, con đút cơm cho mẹ.
NGHĨA LÝ:
Loài thú, loài chim còn biết ơn nghĩa, báo hiếu, huống chi là người.
Công ơn mẹ ba năm cho con bú mớm (tam niên nhũ bộ 三年乳哺), phận làm con lẽ nào không
biết báo hiếu?
230.
你急, 他未急; 人閒,心不閒.
Nễ cấp, tha vị cấp, Nhân nhàn, tâm bất nhàn.
Anh gấp, người khác chưa gấp; Người nhàn, nội tâm không nhàn.
NGHĨA LÝ:
Anh gấp gáp, nhưng người khác không gấp như anh. Anh chớ nghĩ ai cũng có
tâm trạng như mình. Đừng suy bụng ta ra bụng người. Có người bề ngoài trông
nhàn nhã, nhưng trong lòng phiền não, bất an. Đừng nhận xét ngườikhác theo dáng
vẻ bề ngoài của họ.
231.
隱惡揚善; 執其兩端.
Ẩn ác dương thiện; Chấp kỳ lưỡng đoan.
Che giấu cái xấu của người và biểu dương cái tốt của họ, giữ lấy hai cực
đoan.
CHÚ:
Câu này lấy từ Trung Dung (chương 6), là lời Khổng Tử khen vua Thuấn là
bậc đại trí: Thuấn hiếu vấn, nhi hiếu sát nhĩ ngôn. Ẩn ác nhi dương thiện. Chấp
kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung ư dân. 舜好問, 而好察邇言. 隱惡而揚善. 執其兩端, 用其中於民. (Vua Thuấn thích hỏi han, thích xem xét lời
thiển cận. Ngài che giấu cái xấu của người, và biểu dương cái tốt của họ. Ngài
giữ lấy hai cực đoan và đem điều vừa phải dạy dân.)
232.
妻賢,夫禍少; 子孝,父心寬.
Thê hiền, phu họa thiểu; Tử hiếu, phụ tâm khoan.
Vợ hiền, chồng ít tai họa; Con hiếu, lòng cha thư thái.
CHÚ:
Khoan 寬: Rộng rãi, ung dung, thư thái.
NGHĨA LÝ:
Các thành viên trong gia đình liên đới nhau, mà người chồng, người cha
là cột trụ. Nếu người vợ hung dữ, sẽ gây tai họa cho gia đình. Nếu người vợ quá
hiền, dễ bị lừa gạt, thì chồng cũng bị vạ lây. Cho nên nói vợ hiền thì chồng ít
bị tai họa. Con cái hiếu thảo, biết chăm học lập thân, không làm điều xằng bậy
khiến cha mẹ mang tiếng xấu. Do đó con hiếu thì cha an lòng, luôn nhẹ nhàng thư
thái.
233.
既墜釜甑, 反顧無益.
Ký trụy phủ tắng, Phản cố vô ích.
Nồi chảo đã rơi bể, Hối hận cũng vô ích.
CHÚ:
– Ký 既: Đã rồi.
– Trụy 墜: Rơi rớt, ngã đổ.
– Phủ 釜: Cái chảo.
– Tắng 甑: Nồi chõ.
– Phủ tắng là từ cổ, dùng trong sách xưa, ngày nay dùng chữ oa 鍋 (nồi, xoong, chảo).
– Phản cố 反顧: Quay đầu nhìn lại, hối hận (phản hối 反悔).
NGHĨA LÝ:
Sự tình đến nước hết cứu vãn, như nồi chảo đã
rơi bể tan tành, thì hối hận cũng vô ích.
234.
已覆之水, 收之實難.
Dĩ phúc chi thủy, Thu chi thực nan.
Nước đã đổ xuống, Thực là khó hốt lại.
CHÚ:
– Phúc 覆: 1/ Lật đổ, nghiêng đổ; 2/ (Đọc là phú) che đậy, như: Thiên phú địa
tải. 天覆地載. (Trời che đất chở.)
NGHĨA LÝ:
Bát nước đã đổ xuống đất, không hốt lại được. Nói gọn là: Phúc thủy nan
thu. 覆水難收. (Nước đổ khó hốt.) Cũng nói: Phản thủy bất thu. 反水不收. (Nước đổ không hốt.)
Câu này nối tiếp câu 233, đại ý sự đã rồi (fait accompli), hết phương
cứu vãn; thường dùng nói tình trạng vợ chồng gãy đổ, không thể hàn gắn được.
235.
人生待足何時足; 人老偷閒且自閒.
Nhân sinh đãi túc hà thời túc; Nhân lão thâu nhàn thả tự nhàn.
Sống đợi đủ khi nào mới đủ; Lúc già trộm nhàn thì tạm nhàn.
CHÚ:
– Đãi túc 待足: Đợi đầy đủ.
– Hà thời 何時: Khi nào.
– Thâu 偷: Trộm.
– Thâu nhàn 偷閒: Trộm nhàn (tranh thủ chút rảnh rang khi bận rộn).
– Thả 且: tạm thời.
NGHĨA LÝ:
Tri túc thường vui, biết đủ thì đủ liền, đợi đủ khi nào mới đủ? Đến già
cũng chưa nhàn hạ, cứ tranh thủ chút nhàn hạ, thì tạm nhàn. Vế sau có dị bản:
Vị lão đắc nhàn thủy thị nhàn. 未老得閒始是閒. (Chưa già mà được nhàn, bắt đầu nhàn.) Ý nói
già mới nhàn, nhưng khi chưa già mà nhàn được thì xem là bắt đầu nhàn rồi. Tri
túc và tri nhàn đều do mình, chớ đợi lúc đầy đủ, chớ đợi lúc nhàn hạ.
236.
但有綠楊堪繫馬; 處處有路透長安.
Đãn hữu lục dương kham hệ mã; Xứ xứ hữu lộ thấu Trường An.
Chỉ cần có cây dương liễu xanh là cột ngựa được;
Khắp nơi đều có đường thẳng tới Trường An.
CHÚ:
– Đãn 但: Chỉ 只.
– Lục 綠: Màu xanh lá.
– Dương 楊: Dương liễu 楊柳 (danh pháp khoa học: Salix).
– Hệ mã 繫馬: Buộc ngựa (thuyên mã 拴馬).
– Thấu 透: Thấu qua, xuyên thấu, thẳng tới.
– Trường An 長安: Kinh đô Trung Quốc qua nhiều triều đại: Hán, Tấn, Tùy, Đường. Trường
An được đổi tên là Tây An vào đời Minh. Trong câu này Trường An ám chỉ chung là
kinh đô.
NGHĨA LÝ:
Khuyên thanh niên cố gắng đến kinh đô lập công danh, chớ ngại đường xa
vất vả khó đi. Đường nào cũng thẳng tới kinh đô, hễ quyết tâm là tới. Nếu trên
đường mệt mỏi thì cứ buộc ngựa vào cây mà nghỉ ngơi dưới bóng mát.
237.
見者易, 學者難.
Kiến giả dị, học giả nan. Thấy thì dễ, học thì khó.
NGHĨA LÝ:
Thấy người khác làm nhanh gọn hoàn hảo, tưởng là dễ, nhưng học để làm
được như họ thì rất khó. Chẳng hạn như trong lĩnh vực thư pháp, cao thủ cầm bút
nhẹ nhàng lia mấy phát ra bức chữ thảo bay bướm xuất thần, nhưng muốn viết được
giống vậy, ta phải học cả đời, có khi đường đi không tới. Tăng Quảng Hiền Văn
(tiếp)
238.
莫將容易得, 便作等閒看.
Mạc tương dung dị đắc, Tiện tác đẳng nhàn khán.
Đừng xem những thứ dễ có là thứ tầm thường.
CHÚ:
Dung dị 容易: Dễ dàng. – Đẳng nhàn 等閒: Bình thường 平常, tầm thường 寻常.
NGHĨA LÝ:
Có những người may mắn, dễ có được vật quý, dễ gặp được người tốt, nên
không biết quý trọng vật ấy và người ấy, cứ xem họ là tầm thường. Đến khi mất
người, mất vật rồi thì mới hối hận vì trót không biết giữ gìn, quý trọng.
239.
用心計較般般錯; 退步思量事事難.
Dụng tâm kế giảo ban ban thác; Thoái bộ tư lương sự sự nan.
Dụng tâm tính toán việc gì cũng sai; Lùi bước xem lại việc gì cũng khó.
CHÚ:
– Dụng tâm 用心: Chuyên tâm, tập trung tâm lực.
– Kế giảo 計較: Tính toán, cân nhắc.
– Thác 錯: Sai lầm.
– Tư lương 思量: Suy nghĩ, suy xét, đắn đo, cân nhắc.
Nhận xét
Đăng nhận xét