TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN 3

 

240.

道路各別; 養家一般.

Đạo lộ các biệt; Dưỡng gia nhất ban.

Mỗi người đi một con đường khác nhau, nhưng giống nhau là phải nuôi gia đình.

CHÚ:

– Đạo lộ 道路: Con đường, ở đây ngụ ý nghề nghiệp, cách mưu sinh.

– Dưỡng gia 養家: Nuôi gia đình.

– Nhất ban 一般: Giống nhau, tương đồng.

241.

從儉入奢易, 從奢入儉難.

Tòng kiệm nhập xa dị, Tòng xa nhập kiệm nan.

Từ tiết kiệm vào xa xỉ thì dễ, Từ xa xỉ vào tiết kiệm thì khó.

CHÚ:

– Kiệm : Tiết kiệm 節儉, dè sẻn.

– Xa : Xa xỉ 奢侈, xa hoa, hoang phí.

NGHĨA LÝ:

Đang sống tằn tiện dè sẻn dễ đổi qua sống giàu sang xa xỉ. Đang sống sung sướng quen ăn hoang xài phí mà đổi qua sống tiết kiệm dè sẻn thì rất khó.

242.

知音說與知音聽; 不是知音莫與彈.

Tri âm thuyết dữ tri âm thính; Bất thị tri âm mạc dữ đàn.

Tri âm nói cho tri âm nghe; không phải tri âm thì chớ khảy đàn.

CHÚ:

– Tri âm 知音: Người hiểu và trân trọng tài năng của ta.

– Đàn: Khảy đàn, đánh đàn.

Tri âm lấy từ tích Bá Nha 伯牙 và Chung Tử Kỳ 鍾子期 thời Xuân Thu (770-476 TCN). Bá Nha đàn giỏi, Chung Tử Kỳ nghe đàn thì hiểu tâm tư tình cảm của Bá Nha, nên hai người là bạn tri âm. Khi Tử Kỳ mất, Bá Nha bứt dây đập vỡ đàn, cho rằng trên đời không còn tri âm nữa. Điển tích này gọi là Bá Nha tuyệt huyền 伯牙絕弦 (Bá Nha bứt dây đàn). Tri âm 知音 ý nghĩa như tri kỷ 知己 (người hiểu rõ về ta).

Tình tri kỷ thường được minh họa qua tình bạn Quản Di Ngô 管夷吾 (tức Quản Trọng 管仲) và Bào Thúc (thường bị đọc nhầm là Bão Thúc; tức Bào Thúc Nha 鮑叔牙), cùng sống ở nước Tề thời Xuân Thu. Sách Liệt Tử (Lực Mệnh) chép lời Quản Trọng:

“Ta thuở nhỏ khốn cùng, thường đi buôn với Bào Thúc; chia lời thì ta lấy phần hơn; Bào Thúc không xem ta tham vì biết ta nghèo. Ta thường cùng mưu tính công việc với Bào Thúc nhưng bị khốn đốn lớn; Bào Thúc không xem ta ngu vì biết thời thế có khi thuận lợi có khi bất lợi. Ta ba lần làm quan là ba lần bị vua đuổi; Bào Thúc không xem ta bất tài vì biết ta chưa gặp thời. Ta ba lần đánh trận là ba lần chạy trốn; Bào Thúc không xem ta khiếp sợ vì biết ta còn mẹ già. Công tử Củ thất bại, Thiệu Hốt tự tử, ta chịu nhục trong ngục tối; Bào Thúc không xem ta là kẻ vô sỉ bởi lẽ biết ta không xấu hổ vì tiểu tiết, mà chỉ nhục vì chưa hiển danh ở đời. Sinh ta ra là cha mẹ, hiểu được ta là Bào Thúc vậy.”

(Ngô thiếu cùng khốn thời, thường dữ Bào Thúc cổ, phân tài đa tự dữ; Bào Thúc bất dĩ ngã vi tham, tri ngã bần dã. Ngô thường vị Bào Thúc mưu sự nhi đại cùng khốn, Bào Thúc bất dĩ ngã vi ngu, tri thời hữu lợi bất lợi dã. Ngô thường tam sĩ, tam kiến trục ư quân, Bào Thúc bất dĩ ngã vi bất tiếu, tri ngã bất tao thời dã. Ngô thường tam chiến, tam bắc, Bào Thúc bất dĩ ngã vi khiếp, tri ngã hữu lão mẫu dã. Công tử Củ bại, Thiệu Hốt tử chi, ngô u tù thụ nhục; Bào Thúc bất dĩ ngã vi vô sỉ, tri ngã bất tu tiểu tiết, nhi sỉ danh bất hiển ư thiên hạ dã. Sinh ngã giả phụ mẫu, tri ngã giả Bào Thúc dã.

吾少窮困時, 常與鮑叔賈, 分財多自與; 鮑叔不以我為貪, 知我貧也. 吾嘗為鮑叔謀事而大窮困, 鮑叔不以我為愚, 知時有利不利也. 吾嘗三仕, 三見逐於君, 鮑叔不以我為不肖, 知我不遭時也. 吾嘗三戰, 三北, 鮑叔不以我為怯, 知我有老母也. 公子糾敗, 召忽死之, 吾幽囚受辱; 鮑叔不以我為無恥, 知我不羞小節, 而恥名不顯 於天下也. 生我者父母, 知我者鮑叔也.)

Thời Xuân Thu, tình tri âm có Bá Nha và Tử Kỳ, tình tri kỷ có Quản Trọng và Bào Thúc. Về sau, tri âm tri kỷ dùng để chỉ bạn bè thân thiết, hiểu lòng nhau (tri tâm bằng hữu 知心朋友).

NGHĨA LÝ:

Đàn là cho người tri âm thưởng thức, nếu không phải tri âm thì chớ khảy đàn làm gì.

243.

點石化為金, 人心猶未足.

Điểm thạch hóa vi kim, Nhân tâm do vị túc.

Chỉ đá hóa ra vàng, Lòng người như chưa đủ.

CHÚ:

– Điểm : Chỉ vào, chạm vào.

– Nhân tâm 人心: Lòng người, ở đây là dục vọng, lòng tham.

– Do : Như là.

– Vị túc 未足: Chưa đủ, chưa thỏa mãn.

Theo truyền thuyết, phép luyện đan (alchemy) có thể biến cục đá thành cục vàng, chạm tay vào vật gì thì vật ấy biến thành vàng giống như vua Midas trong thần thoại Hy Lạp. Theo tiểu thuyết Đông Du Bát Tiên (Tô Chẩn dịch, Sài Gòn: Nxb. Tín Đức Thư Xã, 1950), khi học đạo với Đức Chung Tổ (Chung Ly Quyền, Hán Chung Ly), ngài Lữ Nham (Lữ Động Tân) không chịu học phép chỉ đá hóa vàng để khỏi gây hại đời sau vì biết khi hết thời hạn, vàng ấy sẽ trở lại thành đá.

NGHĨA LÝ:

Lòng tham con người vô đáy, nếu có thể chỉ đá hóa vàng, họ vẫn chưa thỏa mãn.

244.

信了肚, 賣了屋.

Tín liễu đỗ, mại liễu ốc. Ăn xả láng, bán cả nhà.

CHÚ:

– Tín : Tùy ý, tùy tiện, để mặc, xả láng.

– Đỗ : Bụng.

– Mại : Bán.

– Ốc : Nhà.

NGHĨA LÝ:

Ăn mặc là nhu cầu cơ bản của con người. Ăn xài xả láng, không biết hạn chế và tiết kiệm, thì gia sản hết sạch.

Người xưa nói: Tọa thực băng sơn. 坐食崩山. (Ngồi ăn núi lở; miệng ăn núi lở; ở không chỉ ăn thì núi cũng lở.)

245.

他人觀花, 涉你目.

Tha nhân quan hoa, bất thiệp nễ mục.

Kẻ khác ngắm hoa, không liên quan mắt bạn.

CHÚ:

– Thiệp : Liên quan, dính líu, can thiệp.

NGHĨA LÝ:

Ai ngắm hoa thì mặc họ, chẳng vướng mắt mình, chẳng liên quan tới mình, để ý làm gì.

246.

他人碌碌, 涉你足.

Tha nhân lục lục, bất thiệp nễ túc. Kẻ khác tầm thường, không liên quan chân bạn.

CHÚ:

- Lục lục 碌碌 (逯逯, 錄錄, 陸陸): Tầm thường.

NGHĨA LÝ:

Ai tầm thường thì kệ họ, không liên quan chân bạn, tức là đường ai nấy đi, quan tâm làm gì. Người đời lắm khi thích xen vào việc thiên hạ, đàm tiếu, khen chê này nọ. Câu này tiếp ý câu 245, khuyên ta đừng xen vào việc thiên hạ.

247.

誰人不愛子孫賢; 誰人不愛千鐘粟.

Thùy nhân bất ái tử tôn hiền; Thùy nhân bất ái thiên chung túc.

Ai mà chẳng yêu con cháu hiền; Ai mà chẳng ham ngàn chung thóc.

CHÚ:

– Chung : (Đơn vị đo lường ngày xưa) một chungbằng mười hộc ; một hộc bằng mười đấu .

– Túc : Thóc lúa.

NGHĨA LÝ:

Mong ước của mọi người là muốn có con cháu hiền ngoan và lương thực dư dật, đời sống sung túc.

248.

莫把至心空計較; 兒孫自有兒孫福.

Mạc bả chí tâm không kế giảo; Nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc.

Chớ hết lòng lo toan vô ích; con cháu có phúc phần của chúng.

CHÚ:

– Chí tâm 至心: Hết lòng.

– Kế giảo : Tính toán, cân nhắc.

– Không kế giảo 空計較: Lo toan vô ích.

NGHĨA LÝ:

Câu này nhắc lại ý câu 127: Nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc; mạc vị nhi tôn tác mã ngưu. 兒孫自有兒孫福; 莫為兒孫作馬牛. (Con cháu tự có phúc của chúng, chớ vì con cháu mà làm trâu ngựa.) Đời cua, cua máy; đời cáy, cáy đào. Cứ nuôi dạy chúng bình thường, cho ăn học đầy đủ, để chúng tự lập thì chúng mới quý thành tựu của chúng. Chớ vì con cháu mà lo xa tính toán vô ích.

249.

與人不 , 勸人養鵝.

Dữ nhân bất hòa, Khuyến nhân dưỡng nga.

Ai không hòa thuận với người khác, Thì khuyên họ nuôi ngỗng.

CHÚ:

Ngỗng có tinh thần bầy đàn cao.

250. 與人不睦, 勸人架屋.

Dữ nhân bất mục, Khuyến nhân giá ốc.

Ai không hòa thuận với người khác, thì khuyên họ dựng nhà.

CHÚ:

Mục : Hòa thuận (hòa mục 和睦).

– Giá : Dựng, xây dựng; như: giá kiều 架橋 (bắc cầu), giá ốc 架屋 (làm nhà).

NGHĨA LÝ:

Thời xưa ở nông thôn xây nhà cần nhiều nhân lực, cần sự giúp đỡ của láng giềng. Khi làm nhà xong, người ta thường bày tiệc mời láng giềng chung vui, nên tình láng giềng sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Câu này nối tiếp câu 249, đề cao sự hòa thuận với mọi người.

251.

但行好事; 莫問前程.

Đãn hành hảo sự; mạc vấn tiền trình.

Cứ làm việc tốt; đừng hỏi mai sau.

CHÚ:

– Đãn : Chỉ cần.

– Mạc vấn 莫問: Chớ hỏi, đừng quan tâm.

– Tiền trình 前程: Con đường trước mặt, tương lai, công danh về sau.

NGHĨA LÝ:

Cứ làm việc tốt, việc lành, đừng quan tâm chuyện mai sau. Tương lai chắc chắn là tốt đẹp rồi, vì làm thiện gặp thiện; làm ác gặp ác. Nhân nào quả đó. Hễ gieo nhân lành, thì gặt quả lành. Chỉ là đến sớm hay muộn thôi.

252.

河狹水急; 人急計生.

Hà hiệp thủy cấp; nhân cấp kế sinh.

Sông hẹp nước chảy xiết; người nguy cấp nảy kế khôn.

CHÚ:

– Hiệp : Hẹp, chật hẹp (hiệp trách 狹窄).

– Cấp : Gấp gáp; khẩn cấp; nguy cấp 危急.

– Thủy cấp 水急: Nước chảy xiết.

– Nhân cấp 人急: Người gặp lúc nguy cấp.

– Kế sinh計生: Mưu kế nảy sinh.

Dị bản: Hà hiệp thủy khẩn; nhân cấp trí sinh. 河狹水緊; 人急智生. (Sông hẹp thì nước chảy xiết; người nguy cấp sinh ra mưu trí.)

NGHĨA LÝ:

Sự vật thích ứng hoàn cảnh, ứng biến tùy thời.

 

253.

明知山有虎, 莫向虎山行.

Minh tri sơn hữu hổ, Mạc hướng hổ sơn hành.

Biết rõ núi có cọp, đừng đi về phía núi có cọp.

CHÚ:

– Minh tri 明知: Biết rõ.

– Hướng hổ sơn 向虎山: Hướng về phía ngọn núi có cọp.

NGHĨA LÝ:

Núi có cọp ám chỉ khó khăn nguy hiểm trên đường đời. Trên đường đời, nên biết rõ những gì nguy hiểm, và cần tránh đi, chớ có lao vào chỗ nguy hiểm đó.

254.

路不行不到; 事不為不成.

Lộ bất hành bất đáo; Sự bất vi bất thành.

Đường không đi không tới; Việc không làm không thành.

NGHĨA LÝ:

Đường đi dù xa, hễ có đi thì sẽ tới nơi. Việc gì cũng vậy, cứ bắt tay vào làm, rồi cũng sẽ thành công. Câu này khuyên ta gắng sức, đừng thấy đường xa việc khó mà nản lòng.

Dị bản: Lộ bất sạn bất bình; Sự bất vi bất thành.

路不鏟不平; 事不為不成.

(Đường không san lấp không bằng phẳng; việc không làm không xong.)

– Sạn : Cuốc xẻng; dùng cuốc san đất bằng phẳng.

 

255.

人不勸不善; 鐘不打不鳴.

Nhân bất khuyến bất thiện; Chung bất đả bất minh.

Người không khuyên không lành; Chuông không đánh không kêu.

CHÚ:

– Minh : (Chim) kêu, (gà) gáy, (chuông, trống) kêu.

Vế sau có dị bản: Chung bất xao bất minh. 鍾不敲不鳴 (chuông không dọng không kêu).

– Xao : Gõ, dọng, đánh.

NGHĨA LÝ:

Có người bản chất lương thiện, tự biết ăn hiền ở lành. Có người còn mê muội, phải khuyên bảo mới trở nên lương thiện. Câu này ý nói người cũng như chuông phải có yếu tố tác động thì mới nên.

Khuyến thiện là khuyên làm lành. Khuyến thiện hoặc trực tiếp thuyết giảng, hoặc in ấn kinh sách (thiện thư). Cuốn sách giấy in khắc gỗ đầu tiên tại Trung Quốc là Kim Cương Kinh 金剛經, được đạo sĩ Vương Nguyên Lộc 王元祿 phát hiện ở hang Mạc Cao 莫高 tại Đôn Hoàng 敦煌 năm 1900, rồi bán cho nhà khảo cổ người Anh gốc Hung là Aurel Stein (1862-1943) năm 1907. Kinh này được thẩm định là khắc in năm 868, hiện là tài sản của Thư Viện Anh Quốc (the British Library). Người ta cho rằng chính kinh sách và thiện thư ấn tống (in tặng) là động lực phát triển nghề in tại Trung Quốc.

 

256.

無錢方斷酒; 臨老始看經.

Vô tiền phương đoạn tửu; Lâm lão thủy khán kinh.

Không tiền mới cai rượu; Đến già mới đọc kinh.

NGHĨA LÝ:

Vì hết tiền mới cai rượu, chứ không phải vì ý thức cần sức khỏe tốt. Nếu có tiền trở lại, chắc là bỏ cai rượu. Đến già mới bắt đầu đọc kinh sách. Nhiều người già mới bắt đầu nương cửa đạo bởi vì cùng đường, chứ không phải vì giác ngộ. Nhiều người hành động do hoàn cảnh chứ không phải do ý thức.

 

257.

點塔七層, 不如暗處一燈.

Điểm tháp thất tằng, bất như ám xứ nhất đăng. Thắp đèn bảy tầng tháp, chẳng bằng thắp một ngọn đèn ở nơi tối.

CHÚ:

– Điểm : Châm, đốt, thắp, nhóm; như: điểm hỏa 點火 (nhóm lửa), điểm đăng 點燈 (thắp đèn).

– Tháp : Cái tháp.

– Thất tằng 七層: Bảy tầng.

– Ám xứ 暗處: Chỗ tối.

NGHĨA LÝ:

Hãy làm điều thiết thực nhất.

 

259.

萬事勸人休瞞昧; 舉頭三尺有神明.

Vạn sự khuyến nhân hưu man muội; Cử đầu tam xích hữu Thần Minh.

Muôn sự khuyên ai đừng ám muội; Ngẩng đầu ba thước cóThần Minh.

CHÚ:

– Man : Lừa dối.

– Muội : Tối, ám muội 暗昧.

– Thần Minh 神明: Thần linh 神靈, chư Thần 諸神.

NGHĨA LÝ:

Theo Kinh Cảm Ứng (tức Cảm Ứng Thiên), trên đầu mỗi người đều có Thần Minh giám sát, ghi chép tội lỗi người ấy: Hựu hữu Tam Thai, Bắc Đẩu Thần Quân tại nhân đầu thượng, lục nhân tội ác, đoạt kỳ kỷ toán. 又有三台, 北斗神君, 在人頭上, 錄人罪惡, 奪其紀算. (Lại có thần Tam Thai [coi về tuổi thọ] và thần Bắc Đẩu [xem xét tội lỗi người đời] ở trên đầu con người và ghi chép tội ác của người đời để trừ bớt tuổi thọ của họ.) Hậu quả là người làm tội bị giảm thọ: Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán. 凡人有過, 大則奪紀, 小則奪算. (Người đời tội lớn thì bị giảm thọ mười hai năm, lỗi nhỏ thì bị giảm thọ một trăm ngày).

– Kỷ : Mười hai năm.

– Toán : Một trăm ngày.

– Kỷ toán dùng chung với nhau hiểu là tuổi thọ. Người Việt ngày nay thay vì nói thập niên (mười năm) lại nói sai là thập kỷ 十紀, bởi lẽ thập kỷ là một trăm hai mươi năm.

 

260.

但存方寸土; 留與子孫耕.

Đãn tồn phương thốn thổ, Lưu dữ tử tôn canh.

Chỉ giữ mảnh đất vuông; giữ cho con cháu cày.

CHÚ:

– Phương thốn 方寸: Tấc vuông.

– Phương thốn thổ 方寸土: Mảnh đất một tấc vuông, tức tâm điền 心田 (ruộng lòng).

– Canh : Cày ruộng.

NGHĨA LÝ:

Tâm như mảnh ruộng, gieo gì gặt đó. Gieo hạt giống lành thì được quả lành, gieo hạt giống xấu thì được quả xấu. Để dành mảnh tâm điền cho con cháu cày mà sống tức là giữ thiện tâm (lòng lành) là tô bồi âm chất, cho con cháu hưởng phúc đức.

261.

滅卻心頭火; 剔起佛前燈.

Diệt khước tâm đầu hỏa; Dịch khởi Phật tiền đăng.

Diệt trừ lửa trong tâm; Thắp sáng đèn giác ngộ.

CHÚ:

- Diệt khước 滅卻: Dập tắt (tức điệu 熄掉), trừ bỏ (diệt trừ 滅除).

– Tâm đầu hỏa 心頭火: Lửa lòng, ngụ ý tham sân si (tam độc) như ngọn lửa.

– Dịch khởi 剔起: Khêu lên (đề khởi 提起), thắp sáng (nhiên khởi 燃起).

– Phật tiền đăng 佛前燈: Ngọn đèn giác ngộ (vì Phật nguyên nghĩa là đấng giác ngộ), ngọn đèn trí huệ (huệ đăng 慧燈). Câu này lấy từ bài Nhiên Đăng Kệ 燃燈偈 (kệ thắp đèn) của Phật Giáo:

滅除心頭火 ; 燃起佛前燈

願此大智慧 ; 照破眾無明.

Diệt trừ tâm đầu hỏa Nhiên khởi Phật tiền đăng

Nguyện thử đại trí huệ Chiếu phá chúng vô minh.

Diệt trừ lửa trong tâm Thắp sáng đèn giác ngộ

Nguyện trí huệ lớn này Soi chúng sinh vô minh.

 

262.

惺惺常不足; 懵懵作公卿.

Tinh tinh thường bất túc; Mộng mộng tác công khanh.

Người thông minh thường xét mình chưa đủ; Kẻ hồ đồ tự xem là quan to.

CHÚ:

– Tinh tinh 惺惺: Thông minh 聰明.

– Mộng mộng懵懵: Không biết gì, hồ đồ 糊涂.

– Công khanh 公卿: Công hầu khanh tướng, quan to.

NGHĨA LÝ:

Người thông minh sáng suốt, biết khiêm tốn, tự cho mình còn thiếu sót, cần học hỏi tu dưỡng thêm. Kẻ hồ đồ, ngông nghênh tự xem mình là đại quan (nói nôm na là “làm cha thiên hạ”).

Cách hiểu khác: Kẻ thông minh, tài giỏi thường không đủ sống; kẻ hồ đồ, bất tài thường làm quan to, chức lớn.

263.

眾星朗朗,  不如孤月獨明.

Chúng tinh lãng lãng, Bất như cô nguyệt độc minh.

Muôn vàn ngôi sao sáng, không bằng một ánh trăng soi.

CHÚ:

– Chúng tinh 眾星: Các ngôi sao.

– Lãng : 1/ Sáng; như: lãng lãng như nhật nguyệt 朗朗如日月 (sáng như mặt trời mặt trăng); 2/ Vang; như: thư thanh lãng lãng 書聲朗朗(tiếng đọc sách vang vang).

– Cô nguyệt 孤月: Mặt trăng lẻ loi.

– Độc minh獨明: Sáng một mình.

NGHĨA LÝ:

Trên trời ngàn sao lấp lánh nhưng mặt đất vẫn tối. Chỉ cần một vầng trăng là đủ soi sáng khắp nơi. Ý nói chỉ cần một người tài giỏi hơn là có nhiều người bình thường.

264.

兄弟相害, 不如自生.

Huynh đệ tương hại, bất như tự sinh.

Anh em hại nhau, chẳng bằng mạnh ai nấy sống.

CHÚ:

– Tương hại 相害: Làm hại nhau.

– Tự sinh 自生: Sống không dựa vào ai (tự lực cánh sinh 自力更生, tự lập sinh tồn自立生存).

NGHĨA LÝ:

Anh em như thể chân tay; nếu bất hòa, thậm chí hại nhau, thì gia đình quả là bất hạnh. Chi bằng mỗi người tự lập, tách riêng mạnh ai nấy sống. Như vậy anh em không đụng chạm quyền lợi nhau và vẫn còn có thể nhìn mặt nhau.

265.

合理可作; 小利莫爭.

Hợp lý khả tác; Tiểu lợi mạc tranh.

Việc hợp lý nên làm;  Lợi nhỏ chớ tranh chấp.

CHÚ:

– Hợp lý 合理: Hợp lý lẽ, thuận đạo lý.

– Tiểu lợi 小利: Cái lợi nhỏ.

NGHĨA LÝ:

Việc gì hợp đạo lý thì ta có thể làm, và không aicó thể phê phán ta. Nhưng tranh chấp cái lợi vụn vặt với người khác, thì ta sẽ bị cười chê.

 

266.

牡丹花好空入目; 棗花雖小結實成.

Mẫu đơn hoa hảo không nhập mục; Tảo hoa tuy tiểu kết thực thành.

Mẫu đơn hoa đẹp nhưng để ngắm suông;  Cây táo hoa tuy bé nhưng cho quả.

CHÚ:

– Mẫu đơn 牡丹: Loài hoa đẹp tượng trưng phú quý, là đề tài phổ biến trong tranh thủy mặc Trung Quốc.

– Hoa hảo 花好: Hoa đẹp.

– Không nhập mục 空入目: Ngắm suông.

– Tảo : Cây táo.

– Kết thực 結實: Kết trái.

– Kết thực thành 結實成: Kết thành trái được.

NGHĨA LÝ:

Xét bề ngoài, mẫu đơn đẹp hơn hoa táo; xétcông dụng, mẫu đơn chỉ ngắm, còn cây táo có thể đơm hoa kết trái ăn được. Tức là một bên no mắt, một bên no bụng.

 

267.

欺老莫欺少;

欺人心不明.

Khi lão mạc khi thiếu;

Khi nhân tâm bất minh.

Lừa già chớ lừa trẻ;

Lừa người là lòng đen tối.

CHÚ: Khi

: 1/ Lừa gạt (khi biển 欺騙); 2/ Lấn hiếp (khi phụ 欺負).

NGHĨA LÝ:

Kẻ lừa đảo thì lòng dạ đen tối. Câu này dùng trách mắng kẻ lừa đảo theo kiểu già không bỏ, nhỏ không tha. Dù sao, người già từng trải, khó bị lừa. Còn trẻ nhỏ, lý trí chưa phát triển, kinh nghiệm sống chưa có.

 

268.

隨分耕鋤收地利;

他時飽滿謝蒼天.

Tùy phận canh sừ thu địa lợi;

Tha thời bão mãn tạ thương thiên.

Tùy thời cày bừa mà thu hoạch;

Một mai no đủ tạ ơn Trời.

CHÚ:

– Tùy phận 隨分: Tùy thời tiết, tùy mùa.

– Canh : Cày ruộng.

– Sừ : Bừa đất, cuốc đất.

– Địa lợi 地利: Hoa lợi, thóc lúa thu hoạch được.

– Tha thời 他時: Lúc khác, ngày khác.

– Bão : No.

– Mãn 滿: Đầy.

– Thương thiên 蒼天: Trời xanh, ông Trời.

NGHĨA LÝ:

Nhà nông tùy thời tiết và tùy mùa mà cày bừa, trồng trọt chờ thu hoạch hoa lợi, thóc lúa. Nếu mưa thuận gió hòa, mùa màng phong nhiêu, gia đình no ấm, thì nên tạ ơn Trời. Bởi thế, có lễ mừng lúa mới ở các nước nông nghiệp, có lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) ở một số nước như Mỹ, Canada, Grenada, Liberia, và đảo quốc Saint Lucia. Ngoài ra, theo Lễ Ký (Giao Đặc Sinh), lễ hội mừng mùa thu hoạch còn là dịp để nông dân vui chơi sau thời gian vất vả trên ruộng đồng.

 

269.

得忍且忍;

得耐且耐.

Đắc nhẫn thả nhẫn;

Đắc nại thả nại.

Nhẫn nhịn được thì nhẫn nhịn;

Chịu đựng được thì chịu đựng.

CHÚ:

– Đắc : Có thể làm được (năng , năng cấu ).

– Nhẫn : Nhẫn nhịn (nhẫn nhượng 忍讓).

– Nại : Chịu đựng; như: nại cơ 耐飢 (chịu được đói), nại khổ 耐苦 (chịu khổ), nại đắc phong sương 耐得風霜 (chịu được gió sương).

NGHĨA LÝ:

Hãy biết kiềm chế, nhẫn nhịn và chịu đựng, không tranh chấp hơn thua với ai.

270.

不忍不耐,

小事成大.

Bất nhẫn bất nại,

Tiểu sự thành đại.

Không nhẫn nhịn, không chịu đựng, việc nhỏ thành to.

CHÚ:

Nhẫn nại 忍耐 (忍奈): Chịu đựng, kham chịu.

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 269. Nếu không biết kiềm chế, việc bé xé to. Một điều nhịn, chín điều lành. Câu 121 nói: Nhẫn đắc nhất thời chi khí, miễn đắc bách nhật chi ưu. 忍得一時之氣, 免得百日之憂. (Nén được cơn giận một lúc, tránh được nỗi sầu trăm ngày.)

 

271.

相論逞英雄,

家計漸漸退.

Tương luận sính anh hùng,

Gia kế tiệm tiệm thoái.

Người trong nhà cãi nhau hơn thua,

Sinh kế gia đình từ từ suy thoái.

CHÚ:

– Tương luận 相論: Tranh luận nhau, cãi nhau.

– Sính : Tỏ ra, trổ tài.

– Sính anh hùng 逞英雄: Tỏ ra anh hùng, hiếu thắng tranh phần hơn.

– Gia kế 家計: Sinh kế của gia đình (gia đình sinh kế 家庭生計), tình trạng kinh tế của gia đình (kinh tế trạng huống 經濟狀況).

– Tiệm tiệm 漸漸: Dần dần (trục tiệm 逐漸).

– Thoái 退: Suy thoái.

NGHĨA LÝ:

Thành viên trong nhà đoàn kết hòa thuận, gia đình hưng thịnh. Người xưa nói: Gia hòa vạn sự hưng. 家和萬事興. (Gia đình hòa thuận thì mọi việc hưng thịnh.) Nếuthành viên tranh nhau hơn thua, gia đình từ từ suy bại.

272.

賢婦令夫貴;

惡婦令夫敗.

Hiền phụ lệnh phu quý;

Ác phụ lệnh phu bại.

Vợ hiền khiến chồng sang;

Vợ ác khiến chồng tàn.

CHÚ:

– Lệnh (lịnh) : Khiến cho (sử 使). Lão Tử nói: Ngũ sắc lệnh nhân mục manh. 五色令人目盲. (Năm màu khiến người ta mờ mắt.)

– Bại : Thất bại, bại hoại.

NGHĨA LÝ:

Người ta hay nói: Giàu nhờ bạn; sang nhờ vợ. Vợ ác khiến chồng bị nhục và thất bại; trái lại, vợ hiền là người vượng phu ích tử 旺夫益子 (giúp ích chồng con) vì vợ hiền tất nhiên cũng là mẹ hiền.Mark Twain (1835-1910) bảo: Phía sau mỗi người đàn ông thành công có một người phụ nữ. (Behind every successful man, there is a woman.) Nhưng đàn ông chớ tham lam, chớ muốn thành công gấp đôi, vì Mark Twain cảnh cáo: Và phía sau mỗi người đàn ông thất bại có hai người phụ nữ. (And behind every unsuccessful man, there are two.)

273.

一人有慶,

兆民咸賴.

Nhất nhân hữu khánh,

Triệu dân hàm lại.

Một người có đức, triệu dân cậy nhờ.

CHÚ:

– Khánh : Đức hnh; mng; điu lành.

– Triệu : S mt triu. Các s như thp, bách, thiên, vn, triu dùng ch s nhiu, ý nói rt đông, ch không chính xác là s đó.

– Triệu dân 兆民: Rt nhiu người.

– Hàm : Đều (đô).

– Lại : Nh cy (y li ). Câu này ly t Thư Kinh 書經 (Lã Hình 呂刑): Nht nhân hu khánh, triu dân li chi. 一人有慶, 兆民賴之. (Mt người có đức, triu dân cy nh.)

274.

人老心未老;

人窮志莫窮.

Nhân lão tâm vị lão;

Nhân cùng chí mạc cùng.

Người già tâm chưa già;

Người cùng chí chớ cùng.

CHÚ:

Cùng : Cùng khn, bn cùng, bế tc.

NGHĨA LÝ:

Tuổi tác chỉ là con số. Người già thân xác suy yếu, nhưng hãy giữ tinh thần trẻ trung để trí óc sáng suốt, minh mẫn. Người gặp cảnh bần cùng, nhưng ý chí hãy mạnh mẽ, tự tin, và cố gắng cải thiện cuộc sống.

275.

人無千日好;

花無百日紅.

Nhân vô thiên nhật hảo;

Hoa vô bách nhật hồng.

Người chẳng ngàn ngày tốt;

Hoa chẳng trăm ngày tươi.

NGHĨA LÝ:

Theo quy luật tự nhiên, thành trụ hoại không, con người trẻ rồi sẽ già đi, như hoa thắm rồi cũng có lúc tàn.

276.

殺人可恕,

情理難容.

Sát nhân khả thứ, tình lý nan dung.

Ngay cả khi việc giết người có thể được tha thứ, thì về tình và lý đều không chấp nhận được.

NGHĨA LÝ:

Mạng người là quý nhất trên đời, nên việc giết người không chấp nhận được về tình và lý.

277.

乍富不知新受用;

乍貧難改舊家風.

Sạ phú bất tri tân thụ dụng;

Sạ bần nan cải cựu gia phong.

Chợt giàu, không biết tiêu tiền mới;

Vừa nghèo, khó sửa nếp sống xưa.

CHÚ:

– Sạ : Cht, bng dưng, va mi.

– Thụ dụng 受用: Hưởng th, tiêu dùng.

– Gia phong 家風: Nếp nhà, li sng ca gia đình.

NGHĨA LÝ:

Người nghèo và người giàu có cách sống khác nhau. Nghèo thường lo ăn chắc mặc bền; giàu quen ăn sang mặc đẹp. Đang nghèo bỗng dưng trở thành giàu (thí dụ như trúng số) thì lúng túng chưa quen kiểu chi tiêu mới, hoặc quen kiểu dè sẻn cũ, hoặc tiêu tiền hoang phí, xài sang khônghợp tình đúng lý là hoang phí. Còn như đang phong lưu đài các, gia cảnh sung túc, bỗng làm ăn thất bại, nợ nần chồng chất, đang giàu hóa ra nghèo, thì thay đổi cách chi tiêu rất khó, vì quen xài sang, quen chi bạo rồi. Câu 241 cũng nói: Tòng kiệm nhập xa dị; tòng xa nhập kiệm nan. 從儉入奢易; 從奢入儉難. (T tiết kim vào xa x thì d; t xa x vào tiết kim thì khó.)

278.

座上客常滿; 樽中酒不空.

Tọa thượng khách thường mãn; tôn trung tửu bất không.

Khách luôn đầy chỗ ngồi; chén rượu chẳng để vơi.

CHÚ:

– Tọa (tòa) : Ch ngi.

– Tọa thượng 座上: Trên ch ngi.

– Thượng tọa 上座: Ch ngi phía trên, ch ngi vinh d.

– Tôn : Chén để ung rượu.

NGHĨA LÝ: Nói về lòng hiếu khách, hay tiệc tùng.

279.

屋漏更遭連夜雨;

行船又遇打頭風.

Ốc lậu cánh tao liên dạ vũ;

Hành thuyền hựu ngộ đả đầu phong.

Nhà dột lại bị mấy đêm mưa;

Đi thuyền lại gặp gió ngược.

CHÚ:

– Ốc : Nhà.

– Lậu : Dt.

– Cánh : Li còn (hu ).

– Tao : Gp (ng ).

– Liên : Liên tiếp.

– Dạ vũ 夜雨: Mưa đêm.

– Hành thuyền 行船: Đi thuyn.

– Đả đầu phong 打頭風: Gió ngược (nghch phong 逆風).

NGHĨA LÝ:

Nhà đã dột, lại còn bị liên tiếp mấy trận mưa đêm, quả là họa vô đơn chí. Đi thuyền lại bị gió ngược (hiểu ngầm là đang có sóng to), quả là họa bất đơn hành. Đời người ai cũng một lần bị khó khăn chồng khó khăn. Tuy nhiên, trong cái khó lại ló cái khôn, như câu 252 nói: Hà hiệp thủy cấp; nhân cấp kế sinh. 河狹水急; 人急計生. (Sông hp nước chy xiết; người nguy cp ny kế khôn.) Vy thì c bình tâm suy tính, tìm cách khc phc.

280.

筍因落籜方成竹;

魚為奔波始化龍.

Duẩn nhân lạc thác phương thành trúc;

Ngư vị bôn ba thủy hóa long.

Măng vì rơi bẹ mới thành tre trúc;

Cá vì bơi ngược sóng mới hóa rồng.

CHÚ:

– Duẩn : Măng tre.

– Nhân : Bi vì (nhân vi 因為, do vu 由于).

– Lạc : Rơi ra (thoát lc 脱落).

– Thác : B măng.

– Phương : Mi (biu th điu sp nói đến ch được thc hin khi đã có điu kin va nói trước đó)

– Vị : Vì (nhân vi 因為, do vu 由于).

– Bôn ba 奔波: 1/ Nhy trên sóng; 2/ Vt v ngược xuôi trên đường đời.

– Thủy : Bt đầu, mi

– Hóa long 化龍: Biến thành rng.

– Cá hóa rồng: Trên dòng Trường Giang (tỉnh Tứ Xuyên) có ghềnh Vũ Môn 禹門 (cũng gi Long Môn 龍門).

Tương truyền sau khi vua Vũ tr thy xong thì ly tên mình đặt cho ghnh này. Dưới ghnh có vc sâu; mùa nước lũ, cá t tp v rt nhiu. Tc truyn con nào nhy vượt khi ghnh này thì hóa rng. Thành ng cá vượt Vũ Môn (ngư dược Vũ Môn 魚躍禹門) ám ch hc trò thi đậu.

NGHĨA LÝ:

Nghịch cảnh lại là điều kiện để thành tựu.

281.

記得少年騎竹馬; 看看又是白頭翁.

Ký đắc thiếu niên kỵ trúc mã;  Khán khán hựu thị bạch đầu ông.

Nhớ xưa còn bé cưỡi ngựa trúc; Nay thấy là ông lão bạc đầu.

CHÚ:

Trúc mã 竹馬: Nga trúc (đồ chơi ca tr em ngày xưa; ly mt khúc tre trúc và cưỡi lên, tưởng tượng là con nga).

NGHĨA LÝ:

Thời gian qua nhanh như tên bay, nhớ lại mới ngày nào còn cưỡi ngựa trúc, mà nay là ông lão bạc đầu. Thấy quỹ thời gian mình còn ít, thì hãy sắp đặt mọi việc chu đáo. Thời gian và thủy triều chẳng đợi ai. (Time and tide wait for no man.)

282.

禮義生於富足; 盜賊出於貧窮.

Lễ nghĩa sinh ư phú túc; Đạo tặc xuất ư bần cùng.

Phú quý sinh lễ nghĩa; Bần cùng sinh đạo tặc.

CHÚ:

– Ư : Ở, tại (dùng như vu ).

– Phú túc 富足: Giàu có, sung túc.

– Đạo tặc 盜賊: Trộm cướp (cường đạo 強盜: ăn cướp; thiết tặc 竊賊: ăn trộm).

– Sinh ư 生於, xuất ư 於出: Sinh ra từ, xuất phát từ. Dịch sát: Lễ nghĩa sinh ra từ giàu có sung túc; trộm cướp sinh ra từ bần cùng. Tức là: Phú quý sinh lễ nghĩa; bần cùng sinh đạo tặc. 富貴生禮義; 貧窮生盜賊.

Dị bản: Lễ nghĩa sinh ư phú túc; đạo tặc xuất ư đổ bác. 禮義生於富足; 盜賊出於賭博. (Lễ nghĩa sinh ra từ giàu có sung túc; trộm cướp sinh ra từ cờ bạc).

– Đổ bác 賭博: Cờ bạc, đánh bạc (đổ trường 賭場: sòng bài, nơi đánh bạc).

NGHĨA LÝ:

Cờ bạc là bác thằng bần. Bần cùng thì đi trộm cướp. Vậy đối với vấn đề xã hội này, trước tiên cần có dự án hay chính sách làm cho dân giàu, khi dân giàu rồi thì họ mới biết lễ nghĩa. Lễ nghĩa không phải tự biết, mà phải nhờ giáo dục. Luận Ngữ (Tử Lộ) chép: Khổng Tử đi sang nước Vệ, Nhiễm Hữu theo hầu. Khổng Tử nói: “Dân nước Vệ đông thật!” Nhiễm Hữu nói: “Dân đã đông, cần làm gì thêm cho họ?” Đáp: “Làm cho dân giàu.” Hỏi: “Dân đã giàu, cần làm gì thêm cho họ?” Đáp: “Giáo dục họ.” (子適衛, 冉有僕. 子曰: “庶矣哉冉有曰既庶矣, 又何加焉?” : “富之.” : “既富矣, 又何加焉?” : “教之.” Tử thích Vệ, Nhiễm Hữu bộc. Tử viết: “Thứ hỹ tai!” Nhiễm Hữu viết: “Ký thứ hỹ, hựu hà gia yên?” Viết: “Phú chi.” Viết: “Ký phú hỹ, hựu hà gia yên?” Viết: “Giáo chi.”)

283.

天上眾星皆拱北; 世間無水不朝東.

Thiên thượng chúng tinh giai củng Bắc;  Thế gian vô thủy bất triều Đông.

Trên trời muôn sao đều vây quanh Bắc Đẩu;  Thế gian sông nào cũng chảy đổ về hướng Đông.

CHÚ:

– Giai : Đều (đô ).

– Củng : 1/ Chp tay (cng th 拱手: chp hai bàn tay trước ngc để thi l); 2/ Khoanh tay (cao cng 高拱: khoanh tay ngi trên cao); 3/ Vây quanh, nhiu quanh (chúng tinh cng nguyt 眾星拱月: các sao vây quanh mt trăng).

– Thủy : Sông; nước.

– Vô thủy bất 無水不: Chng sông nào mà không; sông nào cũng vy.

– Triều : Chu, hướng v, triu kiến 朝見.

Vế trên mượn trong Luận Ngữ (Vi Chính): Tử viết: Vi chính dĩ đức, thí như Bắc Thần cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi. 子曰: 為政以德, 譬如北辰居其所而眾星共之. (Khng T nói: Ly đạo đức mà cai tr đất nước [thì mi người s quy thun] y như sao Bc Thn yên mt ch mà mi ngôi sao khác đều chu v.)

284.

君子安貧;  達人知命.

Quân tử an bần; Đạt nhân tri mệnh.

Quân tử yên vui cảnh nghèo; Người thông đạt hiểu mệnh Trời.

CHÚ:

Đạt nhân 達人: Người thông đạt s lý, hiu mnh Tri.

An bần là triết lý an bần lạc đạo 安貧樂道, phn nh qua cm t Khng Nhan lc x 孔顏樂處 (ch an lc ca Khng T và Nhan Hi). Lun Ng (Thut Nhi) chép: T viết: Phn sơ thc m thy, khúc quăng nhi chm chi, lc dic ti k trung h. Bt nghĩa nhi phú th quý, ư ngã như phù vân. 子曰: 飯疏食飲水, 曲肱而枕之, 樂亦在其中矣. 不義而富且貴, 於我如浮雲. (Khng T nói: Ăn cơm xoàng, ung nước lã, co cánh tay gi đầu. Trong cnh đó cũng có nim vui. Làm điu bt nghĩa mà giàu sang, thì cái giàu sang y ta xem như mây ni.) Người quân t thì thông đạt, hiểu biết mệnh Trời. Luận Ngữ (Nghiêu Viết) chép: Khổng Tử viết: Bất tri mệnh, vô dĩ vi quân tử dã; bất tri lễ, vô dĩ lập dã; bất tri ngôn, vô dĩ tri nhân dã. 孔子曰: 不知命, 無以為君子也; 不知禮, 無以立也; 不知言, 無以知人也. (Không biết mnh Tri thì không th là quân t; không biết l thì không th lp thân trong xã hi; khôngbiết phân tách li nói ca người khác thì không th hiu h.)

285.

忠言逆耳利於行; 良藥苦口利於病.

Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành; Lương dược khổ khẩu lợi ư bệnh.

Lời thẳng chướng tai ích lợi cho hành động; Thuốc hay đắng miệng ích lợi cho bệnh tật.

CHÚ:

– Nghịch nhĩ 逆耳: Trái tai, chướng tai (thun nhĩ 順耳: thun tai, xuôi tai).

– Trung ngôn nghịch nhĩ 忠言逆耳: Li nói thng thn nghe chướng tai, nói thng mt lòng.

– Lợi ư 利於: Ích li cho, tt cho.

– Lương : Tt lành.

– Lương y 良醫: Thy thuc gii.

– Lương dược 良藥: Thuc hay, thuc tt.

– Thần dược 神藥: Thuc công hiu.

– Thần phương diệu dược 神方妙藥: Toa thuc hay và thuc tt.

– Khổ khẩu 苦口: Làm đắng ming. Ngũ v: tân (lt : cay), kh (đắng), toan (chua), đim (ngt), hàm (mn).

NGHĨA LÝ:

Nói thẳng mất lòng, nhưng tốt cho hành động. Nhờ nói thẳng, phân tích lợi hại, nên việc làm tránh được rủi ro. Thuốc hay đắng miệng, nhưng ích lợi chữa bệnh. Thuốc đắng đã tật. Đã (từ cổ): Chữa lành bệnh.

286.

順天者存; 逆天者亡.

Thuận Thiên giả tồn; Nghịch Thiên giả vong.

Ai theo lẽ Trời thì sống; Ai trái lẽ Trời thì chết.

CHÚ:

– Giả : K, người (hc gi : người hc, hành gi 行者: người thc hành).

– Thuận thiên giả 順天者: K theoThiên lý (l Tri, đạo lý).

– Tồn : Còn, sng.

– Nghịch thiên giả 逆天者: K trái Thiên lý (l Tri, đạo lý).

– Vong : Mt, chết.

NGHĨA LÝ:

Câu này lấy từ sách Mạnh Tử (Ly Lâu thượng). Thiên là đạo Trời, lẽ Trời, lẽ phải, đạo lý. Ai thuận theo thì sống. Ai làm trái thì chết.

287.

人貪財死; 鳥貪食亡.

Nhân tham tài tử; Điểu tham thực vong.

Người vì tham tiền tài mà chết; Chim vì tham ăn mồi mà mất.

CHÚ:

— Tài : Tin tài, ca n (khác vi tài : tài năng 才能).

NGHĨA LÝ:

Loài người và loài cầm thú có tính tham lam. Tham là một trong ba thứ chất độc (tam độc): tham, sân, si. Chim và thú tham mồi ăn, nên bị đánh bẫy. Người thì tham đủ thứ: tiền tài, danh lợi, sắc đẹp… Vì lòng tham ấy mà họ không tiếc mạng sống để đạt được mục đích. Những kẻ đánh bẫy lừa người rất sành tâm lý, biết gợi cho lòng tham của kẻ khác nổi lên đùng đùng. Khi lòng tham của ai nổi dậy, là lúc hắn bắt đầu sập bẫy. Câu 287 là lời cảnh tỉnh chúng ta đừng vướng vào mồi danh bả lợi.

288.

夫妻相合好, 琴瑟與笙簧.

Phu thê tương hợp hảo, Cầm sắt dữ sanh hoàng.

Vợ chồng hòa hợp nhau, như đàn và kèn sáo.

CHÚ:

— Cầm và st là hai loi đàn khác nhau, nhưng đều dùng hai que gõ trên nhiu dây. Theo t đin T Hi, đàn cm tương truyn do vua Thun chế ra, có năm dây. Theo Thuyết Văn Gii T, đàn cm do Thn Nông 神農 chế ra, đời Chu tăng thêm hai dây; t đó đàn cm có by dây. Đàn st tương truyn do Bào Hy 庖犧 (Phc Hy 伏羲) chế ra, có năm mươi dây. Hoàng Đế 黃帝 sa li còn hai mươi lăm dây. Tiếng đàn st hòa tiếng đàn cm rt hp, do đó st cm (cm st) còn ch v chng hòa hp thm thiết. Tc ng có câu: Phu thê hảo hợp như cổ sắt cầm. 夫妻好合如鼓瑟琴. (V chng hòa hp, như gõ đàn st vi đàn cm.)

– Sanh và hoàng (cũng như vu ) là nhc c thuc b hơi, có lưỡi gà (bng đồng hay tre), thi ra tiếng. Sách Chính T Thông 正字通 nói: Hoàng, sanh, vu, giai v chi hoàng. ,, , 皆謂之簧. (Hoàng, sanh, vu đều gi chung là hoàng.)

– Cầm sắt dữ sanh hoàng 琴瑟與笙簧: Đàn cm, đàn st, và sanh, hoàng; dch thoát là đàn và kèn sáo.

– Dữ : Và, vi (hòa ).

289.

有兒貧不久; 無子富不長.

Hữu nhi bần bất cửu; Vô tử phú bất trường.

Có con không nghèo lâu; Không con không giàu lâu.

NGHĨA LÝ:

Có con dù nghèo cũng không nghèo lâu, vì chúng sẽ lớn khôn, làm lụng giúp nhà thoát nghèo. Không con, dù giàu, nhưng không ai thừa kế, gia sản cũng hết.

290.

善必壽考; 惡必早亡.

Thiện tất thọ khảo; Ác tất tảo vong.

Thiện ắt sống lâu; Ác ắt chết sớm.

CHÚ:

Thọ khảo 壽考: Sng lâu.

NGHĨA LÝ:

Người xưa nói: Tích thiện phùng thiện; tích ác phùng ác. 積善逢善; 積惡逢惡. (Tích thin gp thin; tích ác gp ác). Chu Dch (Văn Ngôn qu Càn) nói: Tích thin chi gia tt hu dư khánh. Tích bt thin chi gia tt hu dư ương.積善之家必有餘慶. 積不善之家必有餘殃. (Nhà tích cha điu thin, t có dư điu phúc; nhà tích cha điu ác, t có dư tai ha.) Vy nên, làm thin t sng lâu; làm ác t chết sm.

291

爽口食多偏作病; 快心事過恐生殃.

Sảng khẩu thực đa thiên tác bệnh; Khoái tâm sự quá khủng sinh ương.

Món ngon ăn lắm đâm ra bệnh;  Việc vui sướng quá sợ sinh tai.

CHÚ:

– Sảng : Khoan khoái d chu.

– Sảng khẩu 爽口: Ngon ming.

– Sảng khẩu thực 爽口食: Thc phm ngon, món ăn ngon.

– Thiên : Nghiêng v, có xu hướng.

– Khoái : Vui v.

– Khoái tâm sự 快心事: Vic sướng lòng, vic chơi vui.

– Khủng : S rng.

– Ương : Tai ương, tai ha.

– Khủng sinh ương 恐生殃: S rng sinh ra tai hi.

NGHĨA LÝ:

Thực phẩm ngon miệng nếu ăn nhiều có xu hướng gây bệnh. Việc sung sướng nếu thái quá e rằng sinh tai hại. Việc gì cũng vậy, nếu giữ được mức trung dung thì tốt, nhất là chuyện ăn uống và vui chơi. Tham thực cực thân.Thực phẩm càng ngon thì càng độc, mà ăn nhiều quá thì càng nguy. Món ăn cũng là thuốc, thuốc bổ hay thuốc độc là do cách chế biến, bảo quản, sử dụng. Mà thuốc kể cả thuốc bổ thì có tác dụng phụ (side effect). Ngay cả món ăn bổ dưỡng, vẫn có tác dụng phụ (thế nên người tiểu đường phải kiêng món ngọt; người bị gút nên kiêng hải sản). Ăn uống, vui chơi là nhu cầu cơ bản của con người. Nhưng vui chơi hưởng thụ thái quá, theo kiểu người xưa bỉnh chúc dạ du 炳燭夜遊 (đốt đuc chơi thâu đêm) e rng lc cc sinh bi 樂極生悲 (sướng lm bun nhiu).

292.

富貴定要安本分; 貧窮不必枉思量.

Phú quý định yếu an bổn phận; Bần cùng bất tất uổng tư lương.

Ai phú quý đã đành yên phận; Ai bần cùng chớ tính làm càn.

CHÚ:

– Uổng : Tà vy, không đạo lý.

– Tư lương 思量: Suy nghĩ, đắn đo.

NGHĨA LÝ:

Dù nghèo cũng đừng làm việc sái quấy. Luật pháp thế gian và luật báo ứng sẽ không để thoát ai cả.

293.

畫水無風空作浪; 繡花雖好不聞香.

Họa thủy vô phong không tác lãng; Tú hoa tuy hảo bất văn hương.

Nước trong tranh không có gió mà dậy sóng; Hoa thêu tuy đẹp chẳng nghe thơm.

CHÚ:

– Không tác lãng 空作浪: Dy sóng không có nguyên nhân, không có lý do.

– Tú : Thêu; hàng thêu.

– Tú hoa 繡花: Hoa thêu trên vi, la.

NGHĨA LÝ:

Sóng trong tranh là ảo, vì không do gió làm dậy lên. Hoa thêu cũng là ảo nên không tỏa hương. Phải chăng câu này ngụ ý khuyên hãy xem trọng cái thực hơn cái ảo?

294.

貪他一斗米, 失卻半年糧.

Tham tha nhất đấu mễ, Thất khước bán niên lương.

Tham một đấu gạo kẻ khác, Mình lại mất nửa năm lương.

CHÚ:

Tha : Tha nhân, người khác.

NGHĨA LÝ:

Tham thì thâm.

295.

爭他一腳豚, 反失一肘羊.

Tranh tha nhất cước đồn, Phản thất nhất trửu dương.

Giành một chân heo kẻ khác, Mình lại mất một đùi dê.

CHÚ:

– Tranh : Tranh giành.

– Cước : Chân.

– Đồn : Heo, ln (trư , ).

– Phản : Trái li.

– Trửu : Khuu tay.

– Dương trửu 羊肘: Đùi dê.

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 295, cảnh tỉnh về thói tham lam tranh giành kẻ khác.

 

296.

龍歸晚洞雲猶濕; 麝過春山草木香.

Long quy vãn động vân do thấp; Xạ quá xuân sơn thảo mộc hương.

Rồng về hang động buổi chiều, mây như ẩm; hươu xạ qua núi mùa xuân, cỏ còn thơm.

CHÚ:

– Thấp : m ướt.

– Xạ : Con hươu x (musk deer)là loài thú ging hươu, không sng, lông đen, bng có mt cái túi da, gi là x hương 麝香 (musk: danh pháp khoa hc là Moschus mosechiferus), dùng làm thuc. Khi bt được hươu x, người ta ct túi x ri phơi khô, ct vào hp đậy kín. Khong 50-65% trng lượng túi x là trng lượng x hương nguyên cht.

NGHĨA LÝ:

Rồng ẩn trong mây, nên vào buổi chiều khi rồng trở về hang động, đám mây như còn ẩm. Con hươu xạ chạy qua ngọn núi vào mùa xuân, cây cỏ còn lưu lại hương thơm.

Sống trên trần gian con người nên có sự nghiệp lưu danh đời sau.

Người xưa nói: Nhân quá lưu danh; nhạn quá lưu thanh. 人過留名; 雁過留聲. (Người mt để li danh tiếng; chim nhn bay qua để li tiếng kêu.) Kiếp sng con người là hu hn, để lưu danh hu thế, T Truyn 左傳 (Tương Công năm 24 襄公 24 ) đề ra tam bt h 三不朽 (ba cái không mc nát) hay tam lp 三立 (lp đức, lp công, lp ngôn) như sau:

Thái thượng hữu lập đức, kỳ thứ hữu lập công, kỳ thứ hữu lập ngôn. 太上有立德, 其次有立功, 其次有立言. (Trên hết là lp đức, kế đến là lp công, chót hết là lp ngôn.) Tu dưỡng đạo đức làm gương cho đời; lp công nghip hu ích giúp đời; lp thuyết, viết sách truyn bá kiến thc và đạo đức.

Do đề cao lập ngôn nên nhà Nho xưa kia chuộng viết sách hữu ích truyền đời; bởi vậy có câu:

Nhập thế tục bất khả vô văn tự. 入世俗不可無文字. (Vào cuc đời chng th không có ch nghĩa.) Viết sách đạo đức không nhng có th lưu danh hu thế mà còn là công qu giúp người viết sách được tiến hóa vào cõi thiêng liêng hng sng.

Quyển kinh Tam Nguơn Giác Thế (Cần Thơ: nhà in Phương Nam, 1953, tr. 36) có in thánh giáo ngày 02-11 Tân Mùi (Thứ Năm 10-12-1931) do Đức Thần Oai Viễn Trấn Quan Thánh Đế Quân giáng cơ dạy như sau:

Phàm người tu hành mà đặt đặng một bộ kinh sám khuyên chúng làm lành thì người ấy đặng thành Tiên. Còn người văn chương quân tử mà làm đặng một pho sách dạy chúng luân thường đạo lý thì người đặng thành Thánh.

297.

平生只會量人短, 何不回頭把自量?

Bình sinh chỉ hội lượng nhân đoản, Hà bất hồi đầu bả tự lượng?

Cả đời chỉ xét khuyết điểm của người, sao không quay đầu tự xét bản thân?

CHÚ:

– Bình sinh 平生: Trn đời (chung thân 終身, nht sinh 一生).

– Nhân đoản 人短: S đon (khuyết đim, ch kém) ca người khác.

– Nhân vô thập toàn. Ai cũng có chỗ hay (sở trường) và chỗ kém (sở đoản).

NGHĨA LÝ:

Thay vì xét nét chê bai sở đoản của người khác thì hãy tự xét mình.

Người xưa khuyên: Tĩnh tọa thường tư kỷ quá; nhàn đàm bất luận nhân phi. 靜坐常思己過; 閒談不 論人非. (Khi ngi yên hãy luôn nghĩ đến sai lm ca mình; lúc chuyn phiếm ch bàn lun lm li ca k khác.)

Chúa Giê-su dạy (Lu-ca 6:41): Sao anh thấy cọng rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính anh thì lại không để ý tới?

298.

見善如不及; 見惡如探湯.

Kiến thiện như bất cập; Kiến ác như thám thang.

Thấy điều thiện như mình theo chẳng kịp; Thấy điều ác như mình chạm nước sôi.

CHÚ:

Thám thang 探湯: Tay chm vào nước sôi (s và lánh xa).

Câu này là lời Khổng Tử chép trong Luận Ngữ (Quý Thị): Kiến thiện như bất cập; kiến bất thiện như thám thang. Ngô kiến kỳ nhân hỹ. Ngô văn kỳ ngữ hỹ. 見善如不及; 見不善如探湯. 吾見其人矣. 吾聞其語矣. (Thy điu thin như mình theo chng kp; thy điu bt thin như mình chm nước sôi. Ta gp người như vy ri. Ta nghe li như thế ri.)

299.

人貧智短; 馬瘦毛長.

Nhân bần trí đoản; Mã sấu mao trường.

Người nghèo trí ngắn; Ngựa ốm lông dài.

CHÚ:

Câu này lấy từ Ngũ Đăng Hội Nguyên 五燈會元 (Ngũ T Pháp Din Thin Sư 五祖法演禪師) ca Thích Ph Tế 釋普濟 đời Tng.

Vế đầu có dị bản: Nhân cùng chí đoản. 人窮志短. (Người nghèo ý chí ngn.)

NGHĨA LÝ:

Ngựa ốm thì lông dài, nhưng người nghèo chưa hẳn là tinh thần hay ý chí ngắn, vì có nhiều người chí lớn vươn lên từ đói nghèo và thành công lớn trong xã hội.

300.

自家心裏急; 他人未知忙.

Tự gia tâm lý cấp; Tha nhân vị tri mang.

Nhà mình có chuyện thì mình vội; kẻ khác nào hay vội gấp cho.

CHÚ:

– Cấp : Gp, vi. – Mang : Gp, vi. – Cấp mang 急忙: Vi vàng, gp rút.

NGHĨA LÝ:

Phần đông có tâm lý đèn nhà ai nấy sáng. Cho nên nhà có việc cấp bách gì thì hãy tự lo liệu, đừng mong cầu ở người khác.

301.

貧無達士將金贈; 病有高人說藥方.

Bần vô đạt sĩ tương kim tặng; Bệnh hữu cao nhân thuyết dược phương.

Nghèo chẳng ai tốt mang vàng tặng; Bệnh có cao nhân mách thuốc cho.

CHÚ:

Đạt sĩ 達士: Người thu tình đạt lý.

NGHĨA LÝ:

Câu này nối tiếp câu 300. Lúc nghèo thì không có ai tốt tặng vàng đâu, nên hãy tự lực cánh sinh. Lúc bệnh lại có người mách bảo thầy này thuốc nọ, là vì lời nói không mất tiền. Trong xã hội hiện nay, có mặt tích cực là rất nhiều cá nhân và hội thiện nguyện chung tay chăm sóc người nghèo và người khó khăn. Ngoài ra, trên mạng Internet lại có quá nhiều bài mách thuốc miễn phí, bày cách trị bệnh này bệnh nọ (kể cả ung thư) và không ai chịu trách nhiệm về tính xác thực của những bài thuốc tốt bụng đó.

302.

觸來莫與; 事過心清涼.

Xúc lai mạc dữ thuyết; Sự quá tâm thanh lương.

Ai xúc phạm, chớ nói chi; chuyện qua đi, tâm thanh thản.

CHÚ:

– Xúc : Xúc phm 觸犯. – Dữ : Vi [k y] (d tha 與他).

– Thanh lương 清涼: Mát m sng khoái (lương sng 涼爽).

NGHĨA LÝ:

Bị ai xúc phạm, ta đừng nói chi. Hãy bình tâm trước mọi thị phi; khi chuyện qua rồi, lòng ta thấy thanh thản. Yêu ghét là sự ràng buộc vào tâm, là sự bận lòng. Anh yêu tôi; tôi ở trong tim anh. Anh ghét tôi và xúc phạm tôi; tôi ở trong tâm trí anh. Tâm trí anh luôn bị ám ảnh ngày đêm. Sự sân hận có thể làm anh đổ bệnh. Thật đáng thương!

303.

秋至滿山多秀色; 春來無處不花香.

Thu chí mãn sơn đa tú sắc; Xuân lai vô xứ bất hoa hương.

Thu đến núi non đầy sắc đẹp; Xuân đến nơi nào cũng thơm hoa.

CHÚ:

– Tú : Đẹp (m ho 美好, tú l 秀麗). – Hoa hương 花香: Hương thơm ca hoa.

NGHĨA LÝ:

Mùa thu đến, khắp núi non nhiều màu sắc xinh đẹp. Mùa xuân đến, chẳng nơi nào mà không có hương thơm của hoa. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa mang một nét đặc trưng và quyến rũ riêng. Vào mùa xuân,cây cối đâm chồi nảy lộc, trăm hoa đua nở, tạo nên một khung cảnh vui tươi. Vào mùa thu, gió thu hiu hắt, hoa tàn, lá rụng, cảnh sắc lại đẹp theo cách riêng. Xét cho cùng, thiên nhiên là tự nhiên, không giả tạo, nhưng con người thì ngược lại.

304.

凡人不可貌相; 海水不可斗量.

Phàm nhân bất khả mạo tướng; Hải thủy bất khả đấu lượng.

Người thường không thể xét dung mạo;

Nước biển không thể đong bằng đấu.

CHÚ:

– Tướng : 1/ Tướng mo 相貌; 2/ Xem tướng.

– Mạo : Mt mũi, dáng v b ngoài (dung mo 容貌).

– Mạo tướng 貌相: Xem tướng [xét đoán] người khác theo dung mo.

– Hải thủy 海水: Nước bin.

– Đấu (đẩu) : Cái đấu để đo lường (mt đấu bng mười thăng ).

– Đấu lượng 斗量: Đo lường bng cái đấu.

NGHĨA LÝ:

Aesop nói: Bề ngoài có thể đánh lừa ta.(Appearances can be deceiving.) Thật vậy, không thể đánh giá một người bằng vẻ bề ngoài, giống như nước biển không thể đo bằng đấu. Bề ngoài xinh đẹp bảnh bao, chưa chắc là người tốt. Dị nhân dị tướng. Người dị tướng chưa chắc là xấu; có thể họ là dị nhân với tài năng đặc biệt. Mạc Đĩnh Chi (1272-1346) thi đỗ trạng nguyên (1304), vào triều chầu vua. Thoạt thấy ông dung mạo xấu xí, vua Trần Anh Tông không hài lòng. Tuy nhiên, vị tân khoa họ Mạc sau này rõ ra là ông quan học rộng, thông minh, liêmkhiết, thẳng thắn; khi đi sứ luôn ứng đối mau lẹ, tài tình khiến vua quan nhà Nguyên phải tâm phục, khẩu phục.

305.

清清之水, 為土所防.

Thanh thanh chi thủy, vi thổ sở phòng.

Dòng nước trong trẻo, được đất che chắn.

CHÚ:

– Phòng : Bo v, che chn. – Vi… sở : Được/b (cu trúc b động, passive voice).

– Vi thổ sở phòng 為土所防: Được đất che chn. (Đất đắp b bao ngăn vi bên ngoài, nên nước trong tro.)

306.

濟濟之士, 為酒所傷.

Tế tế chi sĩ, vi tửu sở thương.

Kẻ sĩ uy nghiêm bị hại vì rượu.

CHÚ:

– Tế tế 濟濟: Chnh t, uy nghi, trang nghiêm. – Vi tửu sở thương 為酒所傷: B rượu hi.

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 305. Nước trong vì có bờ bao. Kẻ sĩ té nhào vì bởi rượu bia. Cuộc sống cần có một vách chắn để phòng ngừa việc tai hại. Như nước cần bờ bao để giữ cho trong trẻo. Kẻ sĩ, hạng trí thức nói chung, cũng cần có một vách chắn vô hình là ý thức về phẩm giá, về nhân cách, để giữ mình trước các tệ nạn.

307.

蒿草之下, 或有蘭香.

Hao thảo chi hạ, hoặc hữu lan hương.

Bên dưới cỏ dại có thể có lan thơm.

CHÚ:

– Hao thảo 蒿草: C di (tp tho 雜草, dã tho 野草); c ngi (ngi tho 艾蒿).

– Hoặc hữu 或有: Có th có.

– Lan hương 蘭香: Hương thơm ca hoa lan.

308.

茅茨之屋, 或有侯王.

Mao tỳ chi ốc, hoặc hữu hầu vương.

Trong mái nhà tranh, có thể có quan tướng.

CHÚ:

– Mao tỳ 茅茨: C tranh, lau sy.

– Hầu vương 侯王: Bc hu và bc vương, nói chung là quan tướng.

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 307. Cảnh nghèo khó đôi khi sinh ra những bậc tài ba tuấn kiệt, làm nên nghiệp lớn.

309.

無限朱門生餓殍; 幾多白屋出公卿.

Vô hạn chu môn sinh ngạ biễu; Kỷ đa bạch ốc xuất công khanh.

Vô số nhà quan sinh kẻ chết đói; Biết bao nhà nghèo sinh bậc đại quan.

CHÚ:

– Vô hạn 無限: Vô s (không có gii hn).

– Chu môn 朱門: Ca màu đỏ (thi xưa nhà quyn quý thường sơn ca màu đỏ).

– Ngạ : Đói (trái vi bão : no).

– Biễu : Chết đói; k chết đói.

– Kỷ đa 幾多: Rt nhiu.

– Bạch ốc 白屋: Nhà nghèo, nhà bình dân.

– Công khanh 公卿: Công hu, khanh

tướng, nói chung là quan tướng.

NGHĨA LÝ:

Bao nhiêu nhà quyền quý có lúc sa sút, thậm chí các công tử phải chết đói. Vô số nhà nghèo, con em học giỏi làm nên quan lớn.

310.

醉裏乾坤大; 壺中日月長.

Túy lý càn khôn đại; Hồ trung nhật nguyệt trường.

Trong cơn say, vũ trụ lớn; Trong bình rượu, thời gian lâu.

CHÚ:

Trong cơn say người ta cảm thấy vũ trụ bao la và thời gian dài lâu. Ý nói người say có một cõi khác, không gian và thời gian phi hiện thực.

Truyện Thủy Hử (hồi 29) có chép cặp đối này. Kỳ thực, đây là hai câu đầu bài Khiển Hứng 遣興 ca Thái Kham 蔡戡 (1141-1182) đời Tng.

醉裏乾坤大壺中日月長

静觀佛理妙頓與世縁忘

晚景無多日浮生有底忙

漁翁真得趣一葉寄滄浪

Túy lý càn khôn đại Hồ trung nhật nguyệt trường

Tĩnh quan Phật lý diệu Đốn dữ thế duyên vong

Vãn cảnh vô đa nhật Phù sinh hữu để mang

Ngư ông chân đắc thú Nhất diệp ký thương lang.

Khi say vũ trụ lớn Trong bình thời gian lâu

Lặng xem lý Phật mầu Duyên trần chợt quên hết

Cảnh chiều không mấy hôm Phù sinh sao bận rộn

Ngư ông thực thú vui Thuyền câu gởi sóng biếc.

311.

萬事皆已定,

浮生空自忙.

Vạn sự giai dĩ định, phù sinh không tự mang.

Muôn sự đã định rồi, bận rộn chi phù sinh.

CHÚ:

– Phù sinh 浮生: Cuc sng tm b, không bn vng;ch kiếp người.

– Mang : Bn rn, vi vàng.

– Không tự 空自: Ung, hoài, vô ích (đồ nhiên 徒然).

– Không tự mang 空自忙: Bn rn vô ích.

NGHĨA LÝ:

Câu này theo thuyết số mệnh. Ai cũng có số mệnh đã định sẵn; vậy thì vất vả, bận rộn trong kiếp sống tạm bợ thật vô ích.

312.

千里送鵝毛;

禮輕仁義重.

Thiên lý tống nga mao;

Lễ khinh nhân nghĩa trọng.

Ngàn dặm tặng lông ngỗng;

Lễ mọn nhân nghĩa nặng.

CHÚ:

Nga mao 鵝毛: Chiếc lông ngng.

– Thiên nga mao 天鵝毛: Lông thiên nga.

– Thiên lý nga mao 千里鵝毛 (Thiên lý hào mao 千里毫毛): Thành ng, ch món quà mn.

NGHĨA LÝ:

Câu này cải biên từ bài thơ của sứ giả Miến Bá Cao 緬伯高. Nước Đại Lý 大理 sai Miến Bá Cao triu cng vua Đường Thái Tông (Lý Thế Dân 李世民, 598-649) con thiên nga trng (bch thiên nga 白天鵝). Đến h Min Dương 沔陽 ( H Bc) s gi tm cho thiên nga, nhưng bt cn, thiên nga bay mt, sót li chiếc lông. Khi vào triu, Miến Bá Cao dâng vua Đường chiếc lông thiên nga kèm bài thơ t ti:

將鵝貢唐朝

山高路遠遙

沔陽湖失去

倒地哭號號

上覆唐天子

可饒緬伯高

禮輕人意重

千里送鵝毛.

Tương nga cống Đường triều

Cao sơn lộ viễn diêu

Miện Dương hồ thất khứ

Đảo địa khốc hào hào

Thượng phúc Đường thiên tử

Khả nhiêu Miến Bá Cao

Lễ khinh nhân ý trọng

Thiên lý tống nga mao.

Thiên nga cống triều Đường

Núi cao đường xa xôi

Miện Dương nga bay mất

Gục mặt khóc không thôi

Xin thiên tử che chở

Tha tội Miến Bá Cao

Lễ mọn nhưng tình nặng

Ngàn dặm tặng nga mao.

313.

世事明如鏡,

前程暗似漆.

Thế sự minh như kính,

Tiền trình ám tự tất.

Chuyện đời sáng tỏ như gương, chuyện mình tăm tối như dường sơn đen.

CHÚ:

– Kính : Gương soi.

– Tiền trình 前程: Con đường trước mt; tương lai.

– Ám : Ti tăm.

– Tự : T như, dường như.

– Tất : Sơn.

NGHĨA LÝ:

Việc người thì sáng, việc mình thì quáng. Tương lai mình chẳng biết thế nào, nhưng chuyện thiên hạ thì rõ vanh vách như người trong cuộc.

314.

光陰黃金難買;

一世如駒過隙.

Quang âm hoàng kim nan mãi;

Nhất thế như câu quá khích.

Vàng ròng khó mua được tấc thời gian;

Đời người như bóng câu qua khe cửa.

CHÚ:

– Quang âm 光陰: Thi gian.

– Mãi : Mua (mi : bán).

– Khuyến mãi 勸買: Khuyến khích khách mua hàng. Ca hàng nào dùng t khuyến mi 勸賣 (khuyến khích bán) là sai.

– Câu : Nga câu, chy rt nhanh ngàn dm (thiên lý câu 千里駒).

– Khích : Khe nt; khe ca (môn khích 門隙).

NGHĨA LÝ:

Thời gian trôi qua rất nhanh, không sao chuộc lại thời gian đã mất. Vế trước diễn lại ý câu: Nhất thốn quang âm nhất thốn kim; thốn kim nan mãi thốn quang âm. 一寸光陰一寸金,寸金難買寸光陰. (Mt tc thi gian mt tc vàng; tc vàng khó mua tc thi gian.) Thi gian tính bng thn (tc), vì thi c người ta cm mt cây nêu (tiêu can 標杆) thng đứng trên mt đất và đo bóng cây nêu đổ dài trên mt đất bao nhiêu tc để tính gi. Vế sau còn nói: Khích câu quá nh 隙駒過影, bch câu quá khích 白駒過隙, câu khích 駒隙.

315.

良田萬頃; 日食一升.

Lương điền vạn khoảnh; Nhật thực nhất thăng.

Ruộng tốt muôn khoảnh; ngày ăn một thăng.

CHÚ:

– Lương điền 良田: Rung tt.

– Khoảnh : Mt khonh rung bng trăm mu (thường lm vi khuynh : nghiêng đổ).

– Thăng : Đơn v đo lường, mt đấu bng mười thăng.

NGHĨA LÝ:

Dù có vạn khoảnh ruộng tốt, mỗi ngày cũng ăn một thăng thôi.

316.

大廈千間; 夜眠八尺.

Đại hạ thiên gian; Dạ miên bát xích.

Nhà lớn ngàn gian; đêm ngủ tám thước.

CHÚ:

– Đại hạ 大廈: Nhà rng ln.

– Gian : Gian nhà.

– Miên : Ng.

– Xích : Thước ta (bng 33cm), mt xích bngmười thn (tc).

NGHĨA LÝ:

Nhà rộng bao la cả ngàn gian, nhưng đêm ngủ chỗ nằm cũng chỉ tám thước ta thôi (khoảng 2,6 mét). Câu này nối tiếp câu 315, ý nói dù ruộng thẳng cánh cò bay, nhà rộng như dinh như phủ, miếng ăn và chỗ ngủ cũng chẳng chiếm bao nhiêu. Thậm chí khi chết, cái huyệt cũng rộng chỉ tám thước ta thôi. Vậy thì cố sức vơ vét tích lũy cho nhiều để làm gì; sao không dành đời mình dốc công tu hành?

317.

千經萬典, 孝悌為先.

Thiên kinh vạn điển, hiếu đễ vi tiên.

Muôn ngàn kinh sách đều lấy hiếu đễ làm đầu.

CHÚ:

– Hiếu : Yêu kính và phng dưỡng cha m. – Đễ : Yêu kính và hòa thun vi anh ch.

– Hiếu đễ vi tiên 孝悌為先: Dĩ hiếu đễ vi tiên 以孝悌為先 (xem hiếu đễ là đứng đầu mi đức hnh).

NGHĨA LÝ:

Người xưa nói: Vạn ác dâm vi thủ; bách thiện hiếu vi tiên. 萬惡淫為首, 百善孝為先. (Dâm đứng đầu muôn điu ác; hiếu đứng đầu trăm điu lành.)

318.

一字入公門, 九牛拖不出.

Nhất tự nhập công môn, cửu ngưu đà bất xuất.

Một chữ vào cửa nha, chín trâu kéo không ra.

CHÚ:

– Công môn 公門: Ca quan (nha môn 衙門).

– Đà : Lôi kéo (bt , du ).

NGHĨA LÝ:

Câu này lấy từ sách Ngũ Đăng Hội Nguyên 五燈會元 (quyn 17). Giy t đã np vào ca công ri, là hết thay đổi sa cha. Cho nên cn thn trng v giy t hành chánh, kin tng, v.v…

319.

衙門八字開, 有理無錢莫進來.

Nha môn bát tự khai, hữu lý vô tiền mạc tiến lai.

Cửa nha môn mở ra, có lý mà không tiền chớ bước vào.

CHÚ:

– Nha môn 衙門: Công th, ch quan làm vic.

– Bát tự 八字: Mt tin nha môn có hai vách tường xiên to hình ch bát ; do đó người ta hay nói bát t nha môn 八字衙門.

– Hữu lý 有理: Có lý l đúng đắn.

– Mạc tiến lai 莫進來: Ch bước vào.

NGHĨA LÝ:

Tệ nạn nơi cửa công quyền là quan và đám nha lại thường kiếm cách hành dân để moi tiền; cho nên người dân dù có lý lẽ đúng mà không tiền thì chớ bước vào.

320.

富從升合起; 貧因不算來.

Phú tòng thăng hợp khởi;

Bần nhân bất toán lai.

Giàu từ việc đong đo; nghèo vì bởi không lo.

CHÚ:

– Thăng hợp 升合: Đơn v đo lường thi xưa (mt đấu bng mười thăng ; mt thăng bng mười hp ; mt hp bng mười chước ). Thăng hp câu này ng ý s đong đo tích lũy.

– Nhân: Bi vì (nhân vi 因為).

– Toán : Lo liu, tính toán.

NGHĨA LÝ:

Kinh doanh, đong đo tích lũy thế nên giàu. Lười biếng, không lo toan cuộc sống thế nên nghèo.

321.

家中無才子, 官從何處來?

Gia trung vô tài tử, quan tòng hà xứ lai?

Trong nhà con bất tài, quan tướng ở đâu ra?

CHÚ:

– Tài tử 才子: Con cái tài gii.

– Hà xứ 何處: Nơi nào, ch nào.

Dị bản:

Gia vô độc thư tử, quan tòng hà xứ lai. 家無讀書子, 官從何處來? (Nhà không có con đọc sách, quan tướng đâu ra?)

322.

萬事不由人計較;

一生都是命安排.

Vạn sự bất do nhân kế giảo;

Nhất sinh đô thị mệnh an bài.

Mọi việc chẳng phải do người tính; trọn đời đều do số mệnh bày.

CHÚ:

– Kế giảo 計較: Tính toán.

– Nhất sinh 一生: Trn đời (bình sinh 平生, chung thân 終身). Đô th 都是: Đều là.

– An bài 安排: Sp xếp, n định.

NGHĨA LÝ:

Theo thuyết định mệnh, người tính không bằng Trời tính. Tuy nhiên, nểu cả tin vào thuyết định mệnh, con người sẽ nhụt ý chí tiến thủ, buông xuôi theo số phận. Hãy cứ tận nhân lực rồi mới tri Thiên mệnh.

323.

急行慢行, 前程只有多少路.

Cấp hành mạn hành, tiền trình chỉ hữu đa thiểu lộ.

Dù đi gấp hay chậm, đường phía trước cũng bấy nhiêu.

CHÚ:

– Cấp : Gp, vi.

– Hành : Đi.

– Mạn : Chm, tt.

– Tiền trình 前程: Đường trước mt, tương lai.

– Chỉ hữu 只有: Ch có.

– Đa thiểu lộ 多少路: Vài li đi.

324.

人間私語; 天聞若雷.

Nhân gian tư ngữ; Thiên văn nhược lôi.

Thế gian nói lén thầm; Trời nghe rõ như sấm.

CHÚ:

– Tư ngữ 私語: Li nói thm lén. – Lôi : Sm n.

– Thiên văn nhược lôi 天聞若雷: Tri nghe rõ như sm vang.

NGHĨA LÝ:

Câu này và câu 325 thành một cặp đối, minh họa ý trong Kinh Cảm Ứng: Mỗi người đều có Thần linh ở trên đầu, biên chép tội phước. Đừng nghĩ rằng tư tưởng xấu và lời thầm lén của mình chẳng ai hay biết. Trời và Thần Minh đều biết rất rõ tức khắc như sấm sét. Do đó người xưa tu thân rất thận trọng khi ở một mình: thận độc 慎獨(vigilance in solitude).

325.

暗室虧心; 神目如電.

Ám thất khuy tâm; Thần mục như điện.

Nhà tối nổi lòng tà; mắt Thần nhìn như điện.

CHÚ:

– Ám thất 暗室: Nhà ti. – Khuy tâm 虧心: Lòng tà vy.

– Thần mục như điện 神目如電: Mt ca Thn Minh nhìn sáng t xt nhanh như đin chp.

NGHĨA LÝ:

Thần Minh giám sát ta chặt chẽ. Tục ngữ nói: Tọa mật thất như thông cù. 坐密室如通衢. (Ngi nhà kín như ngi ngã tư đường.) Hàm ý là có trăm mt nhìn vào nên phi gi gìn đức hnh, ch có sinh lòng quy. Câu này tiếp ý câu 324, theo sách Minh Tâm Bo Giám, đây là li Đức Huyn Đế 玄帝, tc Huyn Thiên Thượng Đế 玄天上帝, Huyn Vũ Đại Đế 玄武大帝, Chân Vũ 真武, Chân Vũ Đại Đế 真武大帝, Bc Cc Huyn Thiên Thượng Đế 北極玄天上帝. Người Vit hay gi là Trn Vũ 鎮武, t tôn hiu ca ngài: Bc Cc Trn Thiên Chân Vũ Huyn Thiên Thượng Đế Ngc Hư Sư Tướng Kim Khuyết Hóa Thân Đãng Ma Vĩnh Trấn Chung Kiếp Tế Khổ Thiên Tôn 北極鎮天真武玄天上帝玉虛師相金闕化身蕩魔永鎮終劫濟苦天尊.

326.

一毫之惡, 勸人莫作.

Nhất hào chi ác, khuyến nhân mạc tác.

Việc ác dù nhỏ, xin ai chớ làm.

CHÚ:

– Nhất hào 一毫: Chút xíu, rt nh, rt ít.

– Nhất hào chi ác 一毫之惡: Vic ác tht nh nht.

– Khuyến nhân mạc tác 勸人莫作: Khuyên mi người ch làm.

NGHĨA LÝ:

Câu này và câu 327 thành một cặp đối, minh họa ý này: Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành. 諸惡莫作, 眾善奉行. (Ch làm mi điu ác, hãy làm mi điu thin [cho dù vic ác và vic thin đó rt nh].)

327.

一毫之善, 與人方便.

Nhất hào chi thiện, dữ nhân phương tiện.

Việc thiện dù nhỏ, cho người thêm tiện.

CHÚ:

– Nhất hào chi thiện 一毫之善: Vic thin tht nh nht.

– Phương tiện 方便: Tin li 便利.

– Dữ nhân phương tiện 與人方便: Giúp cho người khác được thun tin d dàng.

NGHĨA LÝ:

Việc thiện hay ác, đều do thân, khẩu, ý (hành động, lời nói, tư tưởng). Bất kể hình thức nào, dù nhỏ nhặt, cũng dẫn tới hữu ích (nhờ làm thiện) hoặc tai hại (vì làm ác).

328.

欺人是禍; 饒人是福.

Khi nhân thị họa; nhiêu nhân thị phúc.

Lừa người là họa; dung người là phước.

CHÚ:

– Khi : La di, khinh thường.

– Nhiêu : Khoan dung 寬容, tha th (nhiêu th 饒恕). D bn: Khuy nhân th ha. 虧人是禍. (Làm người khác suy bi là ha.)

NGHĨA LÝ:

Lừa người, gieo điều xấu cho người là việc ác; mà ai làm ác thì bị tai họa. Khoan dung người khác, xóa bỏ hận thù, giúp họ khắc phục khuyết điểm, cải tà quy chánh. Đó là tạo phước cho ta và cho họ.

329.

天網恢恢, 報應甚速.

Thiên võng khôi khôi, báo ứng thậm tốc.

Lưới trời lồng lộng, báo ứng rất nhanh.

CHÚ:

– Thiên võng 天網: Lưới Tri, lut Tri.

– Khôi khôi 恢恢: Bao la, lng lng.

– Thậm tốc 甚速: Rt nhanh.

NGHĨA LÝ:

Vế trước lược ý câu 188: Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu. 天網恢恢, 疏而不漏. (Lưới Tri lng lng, thưa nhưng không b sót ai.) Vic báo ng xy ra rt nhanh, như người Vit hay nói: Ngày xưa qu báo thì chy / Ngày nay qu báo mt giây nhãn tin. D bn: Thiên nhãn chiêuchiêu, báo ng thm tc. 天眼昭昭, 報應甚速. (Mt Tri sáng rc, báo ng rt nhanh.)

330.

聖賢言語, 神欽鬼伏.

Thánh Hiền ngôn ngữ, thần khâm quỷ phục.

Lời nói Thánh Hiền, quỷ thần khâm phục.

CHÚ:

– Khâm : Tôn kính, ngưỡng m.

– Khâm phục 欽伏 (欽服): Kính phc, bi phc.

– Thần khâm quỷ phục 神欽鬼伏: Qu thn đều bi phc (鬼神都佩服).

NGHĨA LÝ:

Lời Thánh Hiền là lời dạy đạo đức thiện lành, khiến quỷ thần phải khâm phục. Từ câu 327 đến 330 lấy từ bài Khuyến Thế 勸世 (Khuyên Đời) ca L Nham 呂岩 (tc

Lữ Động Tân 呂洞賓, L T 呂祖) đời Đường:

一毫之善與人方便

一毫之惡勸君莫作

衣食隨緣自然快

算是甚命問什麼卜

欺人是禍饒人是福

天眼昭昭報應甚速

諦聽吾言神欽鬼伏.

Nhất hào chi thiện dữ nhân phương tiện

Nhất hào chi ác khuyến quân mạc tác

Y thực tùy duyên tự nhiên khoái lạc

Toán thị thậm mệnh vấn thập ma bốc

Khi nhân thị họa nhiêu nhân thị phúc

Thiên nhãn chiêu chiêu báo ứng thậm tốc

Đế thính ngô ngôn thần khâm quỷ phục.

Việc thiện dù nhỏ, cho người thêm tiện

Việc ác dù nhỏ, khuyên anh chớ làm

Cơm áo tùy duyên, tự nhiên vui sướng

Biết ngay số mệnh, cần chi xem bói

Lừa người là họa, dung người là phúc

Mắt Trời sáng rực, báo ứng thần tốc

Nghe kỹ lời ta, quỷ thần khâm phục.

331.

人各有心; 心各有見.

Nhân các hữu tâm; Tâm các hữu kiến.

Ai ai cũng có tâm tư; Tâm ai cũng có chủ kiến.

CHÚ:

Kiến : Ch kiến 主見 (ch trương và kiến gii riêng ca chính mình).

NGHĨA LÝ:

Đối với một sự vật, hoàn cảnh, mỗi người đều có nhận thức và chủ kiến, và thường thì ta không nhất trí. Cho nên trong mọi hoàn cảnh, không nên ép người khác phải theo ý kiến của ta, mà ta phải tôn trọng chủ kiến của họ.

332

說不如身逢; 耳聞不如目睹.

Khẩu thuyết bất như thân phùng; Nhĩ văn bất như mục đổ.

Lời đồn chẳng bằng tự gặp; Tai nghe chẳng bằng mắt thấy.

CHÚ:

– Khẩu thuyết : Ming thiên h nói, tc li đồn. – Thân phùng 身逢: Đích thân mình gp.

– Đổ : Thy (khán kiến 看見).

NGHĨA LÝ:

Trăm nghe không bằng một thấy. Đích thân chứng kiến (tai nghe mắt thấy) thì có giá trị hơn là chỉ nghe người khác kể lại, đồn đại. Câu này lấy từ Tư Trị Thông Giám資治通鑒 (Đường K 唐紀) ca Tư Mã Quang 司馬光 (1019-1086). T đó có thành ng nhĩ văn mc đổ 耳聞目睹 (tai nghe mt thy).

333.

養軍千日, 用在一朝.

Dưỡng quân thiên nhật, dụng tại nhất triêu.

Nuôi quân ngàn ngày, dùng một buổi sáng.

CHÚ:

Triêu : Sáng sm (m : chiu ti). D bn: Dưỡng binh thiên nht, dng ti nht thi. 養兵千日, 用在一時. (Nuôi quân ngàn ngày, dùng trong mt lúc.)

NGHĨA LÝ:

Nuôi quân, huấn luyện trường kỳ, nhưng chỉ dùng trong lúc nguy biến thôi. Câu này chép từ truyện Thủy Hử 水滸 (hi 61) ca Thi Ni Am 施耐庵 (1296-1372).

334.

國清才子貴; 家富小兒嬌.

Quốc thanh tài tử quý; Gia phú tiểu nhi kiều.

Nước yên người tài quý; Nhà giàu trẻ con xinh.

CHÚ:

– Quốc thanh 國清: Nước thanh bình 清平. – Tài tử 才子: Người tài. – Quý : Quý trng.

– Tài tử quý 才子貴: Người tài được quý trng. – Gia phú 家富: Nhà giàu.

– Tiểu nhi 小兒: Tr con. – Kiều : Xinh đẹp (kiu l 嬌麗).

Vế sau có dị bản: Gia phú tiểu nhi kiêu. 家富小兒驕. (Nhà giàu tr con kiêu căng.) Hai câu này ly t bài K Tng 160 ca Thích Tông Co 釋宗杲 (1089-1163) đời Tng.

335.

利刀割體痕易合; 惡語傷人恨不消.

Lợi đao cát thể ngân dị hợp; Ác ngữ thương nhân hận bất tiêu.

Dao bén cắt thân, sẹo dễ lành; Lời ác hại người, hận không tan.

CHÚ:

– Lợi đao 利刀: Dao bén. – Cát : Ct. – Thể : Thân th. – Ngân : So, tho.

– Dị hợp 易合: D lành, vết thương khép ming. – Ác ngữ 惡語: Li ác độc.

– Thương nhân 傷人: Làm hi người khác. – Hận : Ut hn, hn căm. – Tiêu : Tiêu tan.

NGHĨA LÝ:

Lời nói ác độc còn đáng sợ hơn là dao bén. Vết thương do dao bén còn dễ lành. Lời ác gây vết thương tâm lý, khiến người khác đau lòng, sinh uất hận căm hờn mãi không tiêu tan. Trong các loại vũ khí, cái lưỡi (lời nói) là thứ lợi hại, nguy hiểm, đáng sợ nhất. Lời nói không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, nó có thể ảnh hưởng đến quốc gia. Luận Ngữ (Tử Lộ) đã nói: Nhất ngôn nhi hưng bang. 一言而興邦. (Mt li nói làm hưng thnh nước.) Nht ngôn nhi táng bang. 一言而喪邦 (Mt li nói làm mt nước.) Cho nên, người xưa luôn khuyên thận ngôn 慎言 (thn trng li nói).

336.

公道世間唯白髮, 貴人頭上不曾饒.

Công đạo thế gian duy bạch phát, Quý nhân đầu thượng bất tằng nhiêu.

Lẽ công bằng trên đời là ai cũng phải già, ngay cả người quyền quý.

CHÚ:

– Công đạo 公道: L công bng. – Duy : Ch. – Bạch phát 白髮: Tóc bc; tui già.

– Quý nhân đầu thượng 貴人頭上: Tóc trên đầu k quyn quý.

– Bất tằng nhiêu 不曾饒: Chưa tng tha cho.

NGHĨA LÝ:

Lẽ công bằng trên đời là ai cũng phải già đi. Cái già chưa từng buông tha ai cả, ngay cả người quyền quý. Đây là hai câu trong bài thơ Tống Ẩn Giả Nhất Tuyệt 送隱者一ca Đỗ Mc 杜牧 (803-852) tng mt n sĩ:

無媒徑路草蕭蕭;自古雲林遠市朝

公道世間唯白髮;貴人頭上不曾饒.

Vô môi kính lộ thảo tiêu tiêu Tự cổ vân lâm viễn thị triêu

Công đạo thế gian duy bạch phát Quý nhân đầu thượng bất tằng nhiêu.

(Không tiến dẫn, lối nhỏ, cỏ tiêu điều. Từ xưa ẩn sĩ náu sơn lâm, lánh thị triền Chân lý trên đời chỉ là ai cũng phải già Ngay kẻ quyền quý, cái già cũng chẳng tha.)

CHÚ:

– Môi : Môi gii (tiến c). – Kính lộ 徑路: Li nh.

– Vân lâm 雲林: Rng cao tn mây. – Viễn thị triêu 遠市朝: Lánh xa th trin.

337.

有錢堪出眾; 無衣懶出門.

Hữu tiền kham xuất chúng; Vô y lãn xuất môn.

Có tiền chịu đến chỗ đông; Không y phục lười ra cửa.

CHÚ:

Kham : Chu, có th.

– Xuất chúng 出眾: 1/ Vượt tri mi người; 2/ Xut hin ch đông người.

– Vô y 無衣: Không y phc. – Lãn : Lười biếng. – Xuất môn 出門: Ra khi ca.

NGHĨA LÝ:

Mối bận tâm của con người là cơm áo, giàunghèo. Ai cũng muốn giàu có no đủ, y phục bảnh bao sang trọng. Nên người giàu mặc đẹp không ngại xuất hiện nơi công chúng. Còn người nghèo, ngại ngùng vì y phục không đẹp, nên lười ra khỏi cửa. Thật ra, họ không nên mặc cảm như vậy. Bề ngoài không phải là tất cả. Chỉ cần y phục bình thường và chỉnh tề là được. Người sâu sắc không đánh giá kẻ khác qua bề ngoài.

338.

為官須作相; 及第必爭先.

Vi quan tu tác tướng; Cập đệ tất tranh tiên.

Làm quan nên làm tể tướng; Thi đậu ắt giành thủ khoa.

CHÚ:

– Vi quan 為官: Làm quan. – Tu : Phi, nên.

– Tác tướng 作相: Làm t tướng 宰相. Cp đệ 及第: Thi đậu.

– Tất : t là, t phi. – Tranh tiên 爭先: Tranh đầu bng, giành chiếm th khoa.

NGHĨA LÝ:

Tâm lý chung ai cũng muốn giành phần hơn, đứng đầu mọi người. Làm quan phải là tể tướng (đứng đầu các quan), thi cử thì phải đậu thủ khoa (đầu bảng).

339.

苗從地發; 枝由樹分.

Miêu tòng địa phát; Chi do thụ phân. Lúa non phát triển từ đất; Cành phân ra từ thân cây.

CHÚ:

– Miêu

: Lúa non; cây non. – Chi : Cành, nhánh.

– Thụ : Cây; đây là thân cây (th cán 樹幹). Vế sau có d bn: Th hướng chi phân. 樹向枝分. (Cây phân ra cành.)

NGHĨA LÝ:

Vật gì cũng có cơ sở để phát triển. Như lúa non,cây non, mọc lên từ đất; cành nhánh mọc ra từ thân cây. Con người muốn phát triển cần có nền tảng vững chắc.

340.

父子和而家不退; 兄弟和而家不分.

Phụ tử hòa nhi gia bất thoái; Huynh đệ hòa nhi gia bất phân.

Cha con hòa thuận nhà không suy; Anh em hòa thuận nhà không chia.

CHÚ:

– Thoái 退: Suy thoái.– Gia bất phân 家不分: Không phân chia gia tài; gia đình không phân ly.

NGHĨA LÝ:

Người xưa nói: Gia hòa vạn sự hưng. 家和萬事興. (Gia đình hòa thun, mi vic hưng thnh.) Để hòa thun, gia đình phi có tôn ty trt t, phép tc l nghi, và đoàn kết mt lòng. Nếu chia r, bt hòa, gia đình ln bi, ct nhc tương tàn.

341.

官有正條; 民有私約.

Quan hữu chính điều; Dân hữu tư ước. Quan có luật vua; Dân có lệ làng.

CHÚ:

– Chính điều 正條: Pháp lut quc gia; phép vua.

– Tư ước 私約: Khế ước riêng; như hương ước 鄉約 (l làng).

NGHĨA LÝ:

Cuộc sống cá nhân trong xã hội bị phép tắc ràng buộc: Quốc gia có luật pháp, thôn làng có hương ước, gia đình có gia pháp. Mục đích là hạn chế cá nhân làm chuyện sái quấy.

342.

閒時不燒香; 急時抱佛

Nhàn thời bất thiêu hương; Cấp thời bão Phật cước.

Lúc vô sự chẳng thắp nhang; Khi nguy cấp ôm chân Phật.

CHÚ:

– Nhàn thời 閒時: Lúc bình thường vô s (nhàn cũng viết ).

– Thiêu hương 燒香: Thp hương, đốt nhang. – Cấp thời 急時: Lúc nguy cp.

– Bão Phật cước 抱佛: Ôm chân Pht xin cu giúp. Câu này ly t truyn Thy H 水滸 (hi 17) ca Thi Ni Am 施耐庵 (1296-1372): Cp lai bão Pht cước; nhàn thi bt thiêu hương. 急來抱佛; 閑時不燒香. (Lúc nguy cp ôm chân Pht, lúc bình thường chng đốt nhang.)

NGHĨA LÝ:

Nhiều người lúc bình thường thì không tin Trời Phật, đến khi cuộc đời gặp biến cố, tán gia bại sản, vướng bệnh nan y, hay gặp đại nạn gì đó, bấy giờ cùng đường mới quay đầu cầu cứu Trời Phật.

343.

幸生太平無事日, 恐逢年老不多時.

Hạnh sinh thái bình vô sự nhật, Khủng phùng niên lão bất đa thời.

May mắn sinh thời thái bình yên ổn, Chỉ sợ tuổi già thời gian chẳng nhiều.

CHÚ:

– Hạnh : May mn, hnh phúc. – Thái bình vô sự nhật 太平無事日: Thi thái bình yên n.

NGHĨA LÝ:

Sinh ra vào thời thái bình thịnh trị là điều may mắn, hạnh phúc. Chỉ tiếc những người già hưởng cảnh thái bình không bao lâu.

344.

國亂思良將; 家貧思賢妻.

Quốc loạn tư lương tướng, Gia bần tư hiền thê.

Nước loạn nghĩ đến tướng giỏi; Nhà nghèo nghĩ đến vợ hiền.

CHÚ:

– Tướng : Võ tướng (tướng : t tướng 宰相). – Lương tướng良將: Võ tướng tài ba. – Hiền thê 賢妻: V hin.

NGHĨA LÝ:

Câu này cải biên câu trong Sử Ký 史記 (Ngy Thế Gia 魏世家) ca Tư Mã Thiên 司馬遷: Gia bn tc tư lương thê; quc lon tc tư lương tướng. 家貧則思良妻; 國亂則思良相. (Nhà nghèo nghĩ đến v hin; nước lon nghĩ đến tướng gii.) Nguyên văn dùng t lương thê 良妻, lương tướng 良相.

345.

池塘積水須防旱; 田地深耕足養家.

Trì đường tích thủy tu phòng hạn; Điền địa thâm canh túc dưỡng gia.

Ao nên chứa nước phòng hạn; Ruộng cày sâu đủ nuôi nhà.

CHÚ:

– Trì : Ao. – Đường : Ao. – Tích thủy 積水: Cha nước. – Tu : Nên. – Hạn : Khô hn

(hn hán 旱暵). – Phòng hạn 防旱: Phòng khô hn. – Điền địa 田地: Rung đất.

– Thâm canh 深耕: Cày sâu cuc bm. – Túc dưỡng gia 足養家: Đủ nuôi gia đình.

NGHĨA LÝ:

Hãy biết lo xa (viễn lự 遠慮). Tr nước phòng hn và cn cù canh tác đủ nuôi gia đình. Câu 116 dn li Khng T trong Lun Ng (V Linh Công 衛靈公): Nhân vô vin l, tt hu cn ưu. 人無遠慮, 必有近憂. (Người không lo xa, t s bun gn.)

346.

根深不怕風搖動; 樹正何愁月影斜.

Căn thâm bất phạ phong dao động; Thụ chính vô sầu nguyệt ảnh tà.

Rễ sâu không sợ gió lung lay; Cây ngay lo gì bóng trăng xiên.

CHÚ:

– Dao động 搖動: Đong đưa, lung lay. – Hà sầu 何愁: Bun lo chi. – Tà : Xiên, nghiêng.

NGHĨA LÝ:

Rễ mọc sâu xuống đất thì cây đứng vững trước gió. Cây thẳng đứng thì không ngại ánh trăng chiếu xiên xiên. Con người có căn bản đạo đức (như rễ sâu gốc bền) và sống ngay thẳng (như thân cây thẳng đứng) thì chẳng lo ngại chi tác động xấu từ bên ngoài.

347.

學在一人之下; 用在萬人之上.

Học tại nhất nhân chi hạ; Dụng tại vạn nhân chi thượng.

Học ở dưới một người; Vận dụng trên vạn người.

NGHĨA LÝ:

Học dưới một người, là dưới một ông thầy. Khi đỗ đạt, tiến thân, giữ chức vụ cao trong xã hội, là vận dụng học vấn của mình trên vạn người.

348.

一字為師, 終身如父.

Nhất tự vi sư, Chung thân như phụ.

Học một chữ cũng là thầy, suốt đời xem như cha.

NGHĨA LÝ:

Ngày xưa tôn sư trọng đạo, xem thầy như cha. Thậm chí nhà Nho còn xem thầy hơn cha, theo thứ tự từ trên xuống: quân (vua), sư (thy), ph (cha). Bi vy khi ai dy ta, dù mt ch, ta cũng trng người y là thy, và sut đời xem như cha.

Cụm từ nhất tự vi sư 一字為師 ban đầu là nht t sư 一字師 (ông thy mt ch) tc nht t chi sư 一字之師; lâu ngày biến thành nht t vi sư 一字為師. Ri li có câu: Nht t vi sư; bán t vi sư. 一字為師; 半字為師. (Mt ch là thy; na ch cũng là thy.)

“Ông thầy một chữ” (nhất tự sư 一字師) có t giai thoi nhà sư T K 齊己 (863-937) đời Đường bái phc nhà thơ Trnh Cc 鄭谷 (849-911). T K viết bài thơ To Mai 早梅(Mai N Sm) và nh Trnh Cc ch giáo. Trong bài có hai câu: Tin thôn thâm tuyết lý / Tc d s chi khai. 前村深雪裏/ 昨夜數枝開. (Trước thôn tuyết đổ dày / Đêm qua n vài cành mai.) Trnh Cc nói rng vài cành n thì không phi là sm, nên sa là mt cành n (nht chi khai 一枝開). Ch sa ch s (vài) thành ch nht (mt) mà bài thơ hay hn lên. T K bái phc, gọi Trịnh Cốc là nhất tự sư (thầy một chữ; thầy dạy chữ nhất).

Bán tự vi sư 半字為師 hay bán t sư 半字師 là mt giai thoi khác. Thi nhân đời Đường là Cao Thích 高適 (704-765) có ln đi ngang núi Thanh Phong Lĩnh 清風嶺 Hàng Châu 杭州 và ngh đêm mt ngôi chùa c. Đêm y trăng vng vc, soi sáng con sông. Cao Thích cao hng viết mt bài thơ trên vách chùa:

絕嶺秋風已自; 鶴翻松露濕衣裳

前村月落一江水; 僧在翠微開竹房

Tuyệt lĩnh thu phong dĩ tự lương Hạc phiên tùng lộ thấp y thường

Tiền thôn nguyệt lạc nhất giang thủy Tăng tại thúy vi khai trúc phòng.

Núi cao gió thu đã thanh lương Hạc lượn tùng xanh, áo đẫm sương

Trước thôn trăng rụng một dòng nước Non biếc ẩn sư mở trúc phòng.

Hôm sau rời chùa, đi thuyền trên sông, ông nhận thấy khi trăng tà nước thủy triều xuống, thì chỉ có nửa sông sáng trăng thôi. Ông định sau này trở về chùa, sẽ sửa lại câu thứ ba. Khi có dịp quay lại chùa, Cao Thích thấy có người sửa giùm nhất giang thủy 一江水 thành bán giang thy 半江水ri. Không biết danh tánh cao nhân y, nhưng Cao Thích bái phc, gi người đó là bán t sư 半字師 (thy dy ch bán). Lâu ngày cm t này b ci biên là bán t chi sư 半字之師 (thy dy ch bán), ri thành bán t vi sư 半字為師 (na ch cũng là thầy).

351.

書中自有千鍾粟;

書中自有顏如玉.

Thư trung tự hữu thiên chung túc;

Thư trung tự hữu nhan như ngọc.

Trong sách tự có ngàn chung thóc;

Trong sách tự có vợ mặt ngọc.

CHÚ:

Chung : Đơn v dung lượng, mt chung bng sáu hc bn đấu.

– Túc : Thóc.

– Nhan như ngọc 顏如玉: Mt đẹp như ngc.

NGHĨA LÝ:

Nếu học chăm và đỗ đạt, sẽ giàu có ngàn chung thóc và được lấy vợ đẹp. Đây là hai câu trong bài Khuyến Học 勸學 ca Triu Hng 趙恆 (968-1022) tc vua Tng Chân Tông 宋真宗.

富家不用買良田

書中自有千鍾粟

安居不用架高堂

書中自有黃金

出門莫恨無人隨

書中車馬多如簇

娶妻莫恨無良媒

書中自有顏如玉

男兒若遂平生志

五經勤向窗前讀

Phú gia bất dụng mãi lương điền

Thư trung tự hữu thiên chung túc

An cư bất dụng giá cao đường

Thư trung tự hữu hoàng kim ốc

Xuất môn mạc hận vô nhân tùy

Thư trung xa mã đa như thốc

Thú thê mạc hận vô lương môi

Thư trung tự hữu nhan như ngọc

Nam nhi nhược toại bình sinh chí

Ngũ kinh cần hướng song tiền độc.

Nhà giàu chẳng cần mua ruộng tốt

Trong sách tự có ngàn chung thóc

Ở yên chẳng cần nhà cao rộng

Trong sách tự có nhà vàng ròng

Ra cửa chớ hận không ai theo

Trong sách xe ngựa nhiều như tên

Lấy vợ chớ hận không mối giỏi

Trong sách tự có vợ mặt ngọc

Làm trai muốn toại chí bình sinh

Năm kinh siêng học trước song cửa.

355.

別人騎馬我騎驢,

仔細思量我不如,

等我回頭看, 還有挑腳漢.

Biệt nhân kỵ mã ngã kỵ lư,

Tử tế tư lượng ngã bất như;

Đẳng ngã hồi đầu khán,

Hoàn hữu khiêu cước hán.

Người ta cưỡi ngựa, tôi cưỡi lừa,

Xét kỹ tôi không bằng họ;

Tôi quay lại nhìn,

Vẫn còn có dân cửu vạn [chẳng bằng tôi].

CHÚ:

– Biệt nhân 別人: Người khác.

– Kỵ : Cưỡi.

– Lư : La.

– Tử tế 仔細: K lưỡng.

– Đẳng ngã hồi đầu khán 等我回頭看: Ch tôi quay li nhìn.

– Hoàn hữu 還有: Vn còn có.

– Khiêu cước hán 腳漢: Phu bc vác, cu vn (khiêu cước , khiêu phu 挑夫).

NGHĨA LÝ:

Ngó lên mình chẳng bằng ai; ngó xuống lại thấychẳng ai bằng mình.

 

356.

路上有飢人;

家中有剩飯.

Lộ thượng hữu cơ nhân;

Gia trung hữu thặng phạn.

Trên đường có người đói;

Trong nhà có cơm dư.

CHÚ:

– Cơ : Đói; cơ hàn 飢寒 (đói rét).

– Thặng : Dư tha, thng dư.

– Thặng phạn 剩飯: Cơm dư tha; thng thái 剩菜 (món ăn dư, thc ăn tha).

NGHĨA LÝ:

Cuộc sống luôn có người giàu kẻ nghèo. Kẻ ăn không hết, người lần không ra. Có nhà cơm ăn dư thừa đem đổ bỏ; có người đói khát lê lết trên đường.

357.

積德與兒孫,

要廣行方便.

Tích đức dữ nhi tôn,

Yếu quảng hành phương tiện.

Tích đức cho con cháu, nên giúp người khắp nơi.

CHÚ:

– Tích đức 積德: Làm lành tích tr âm đức.

– Phương tiện 方便: Tin li 便利.

– Quảng hành phương tiện 廣行方便: Giúp cho mi người được d dàng thun li, nht là người neo đơn, khó khăn, cơ nh.

NGHĨA LÝ:

Giúp không cần nhiều; một miếng cơm, manh áo lúc họ cần cũng là quý. Câu 327 nói: Nhất hào chi thiện, dữ nhân phương tiện. 一毫之善, 與人方便. (Vic thin dù nh, cho người thêm tin li.) Câu này tiếp ý câu 356. Xã hi luôn có hai tng lp giàu nghèo. S tương tr là hành động nhân đạo, là tình người. Nếu ai dư ăn dư mc, nên nghĩ đến người khó khăn nghèo kh. Miếng khi đói bng gói khi no. Giúpngười cũng là cách tu nhân tích đức, để li âm đức cho con cháu hưởng. Hôm nay mình được sng sung túc dư dt, cũng là nhờ âm đức tổ tiên tích chứa ngày xưa. Nếu mình ăn hoang xài phí, không giúp đỡ kẻ khó, thì âm đức ấy hao mòn, biết đâu mai sau “con quan lại trở ra hàng thứ dân” (công khanh chi tử vi thứ dân 公卿之子為庶民).

358.

作善鬼神欽;

作惡遭天譴.

Tác thiện quỷ thần khâm;

Tác ác tao Thiên khiển.

Làm lành quỷ thần kính phục;

Làm ác Trời trách phạt.

CHÚ:

Khâm : Kính phc (khâm phc 欽服, khâm bi 欽佩).

– Tao : Gp (phùng ).

– Khiển : Pht ti (khin trách 譴責).

– Tao Thiên khiển 遭天譴: Gp s trách pht ca Tri.

NGHĨA LÝ:

Người làm lành, quỷ thần kính phục; hơn nữa, còn có thiện báo như Kinh Cảm Ứng nói: Sở vi thiện nhân, nhân giai kính chi, Thiên đạo hựu chi, phúc lộc tùy chi, chúng tà viễn chi, thần linh vệ chi, sở tác tất thành. 所為善人, 人皆敬之, 天道佑之, 福綠隨之, 眾邪遠之, 神靈衛之, 所作必成. (Người thin ai cũng kính trng; Tri giúp đỡ h; phúc lc đi theo bên h; mi tà quái tránh xa h vì thn linh h v h; mi vic h làm đều thành công.) Trái li, k làm ác b Tri trách pht, giao cho thn Tư Mnh (Táo Quân) xem xét: Tư Mnh tùy k khinh trọng, đoạt kỳ kỷ toán. Toán tận tắc tử. Tử hữu dư trách, nãi ương cập tử tôn. Hựu chư hoạnh thủ nhân tài giả, nãi kế kỳ thê tử gia khẩu đang chi, tiệm chí tử tang, nhược bất tử tang, tắc hữu thủy hỏa đạo tặc, di vong khí vật, tật bệnh khẩu thiệt chư sự, dĩ đang vọng thủ chi trực. 司命隨其輕重, 奪其紀算. 算盡則死. 死有餘責, 乃殃及子孫. 又諸橫取人財者, 乃計其妻子家口當之, 漸至死喪, 若不死喪, 則有水火盜賊, 遺忘器物, 疾病口舌諸事, 以當妄取之直. (Thn Tư Mnh tùy theo ti nng nh mà bt tui th ca k gây ti. Tui th hết thì chết, nhưng nếu chết mà chưa hết ti thì con cháu sẽ gánh chịu tai ương. Lại như có kẻ cướp giật ngang ngược tiền tài của người khác thì vợ con và toàn gia đình hắn cũng gánh chịu, dần dần cho đến chết; nếu không chết thì cũng bị tai họa nước lửa hoặc trộm cướp, mất mát đồ vật, tật bệnh, mắc lời ăn tiếng nói, v.v... coi như là cái giá phải trả cho thói cướp giật ngang ngược.)

359.

積錢積穀不如積德,

買田買地不如買書.

Tích tiền tích cốc bất như tích đức;

Mãi điền mãi địa bất như mãi thư.

Trữ tiền trữ lúa chẳng bằng trữ đức;

Mua ruộng mua đất chẳng bằng mua sách.

CHÚ:

– Cốc : Lúa go, ngũ cc.

– Mãi : Mua; như: mãi mi 買賣 (vic làm ăn mua bán); mi (bán); khuyến mãi勸買 (khuyến khích khách mua hàng).

NGHĨA LÝ:

Tích âm đức cho con cháu thì tốt hơn là tích trữ tiền bạc lúa gạo. Mua sách cho con học để nên người hữu dụng thì tốt hơn là mua ruộng đất.

360.

一日春工十日糧;

十日春工半年糧.

Nhất nhật xuân công thập nhật lương;

Thập nhật xuân công bán niên lương.

Một ngày xuân canh có lương thực cho mười ngày;

Mười ngày xuân canh có lương thực cho nửa năm.

CHÚ:

– Xuân công 春工: Canh tác v xuân (xuân canh 春耕).

– Lương : Lương thc 糧食.

NGHĨA LÝ:

Chịu canh tác thì có lương thực đủ dùng. Làm một ngày đủ ăn mười ngày. Làm mười ngày đủ ăn nửa năm.

361.

疏懶人沒吃;

勤儉糧滿倉.

Sơ lãn nhân một ngật;

Cần kiệm lương mãn thương.

Lười biếng không có ăn;

Cần kiệm kho lúa đầy.

CHÚ:

– Sơ lãn 疏懶: Nhn nhơ phóng túng (lãn tn 懶散), lười biếng (gii đãi 懈怠), lười buông th (tòng gii 松懈).

– Ngật (cật) : Ăn, ung, hút; như: ngt phn 吃飯 (ăn cơm); ngt tu 吃酒 (ung rượu); ngt yên 吃煙 (hút thuc).

– Cần : Siêng năng chăm ch; như: cn cù 勤劬 (siêng và chu khó); cn hc 勤學 (chăm hc); cn lao 勤勞 (lao động siêng

vất vả).

– Kiệm : Tiết kim. dè sn.

– Cần kiệm 勤儉: Cn cù và dè sn.

– Lương : Lương thc 糧食.

– Thương : Kho lm, va lúa.

Đại ý câu này khuyên lao động siêng năng và dè sẻn, thì đủ ăn đủ mặc, kho lẫm đầy; còn như rong chơi lười biếng thì không có cơm ăn.

362.

人親財不親;

財利要釐清.

Nhân thân tài bất thân;

Tài lợi yếu ly thanh.

Người thì thân, tiền không thân;

Tiền tài lợi ích phải rạch ròi.

CHÚ:

– Thân : Thân thiết, thân thích, thân thuc; thân bng quyến thuc 親朋眷屬 (người thân, bn bè, h hàng).

– Tài bất thân 財不親: Tin tài ch là vt dng vô tri, chng thân vi ai, bt k ai cũng ly dùng được.

– Tài lợi 財利: Tin tài và li ích.

– Ly : Nh nht (hào ly 毫釐).

– Ly thanh 釐清: Rt rõ ràng, rch ròi tng chút (ly thanh s 釐清楚).

NGHĨA LÝ:

Ngay cả giữa người thân, tiền tài và lợi ích phải rạch ròi phân minh, để tránh sứt mẻ tình cảm.

363.

十分伶俐使七分;

常留三分與兒孫.

Thập phần linh lợi sử thất phần;

Thường lưu tam phần dữ nhi tôn.

Mười phần lanh lợi hãy dùng bảy;

Lưu lại ba phần cho cháu con.

CHÚ:

– Linh lợi 伶俐: Lanh li, thông minh 聰明.

– Sử 使: S dng. Câu này và câu 364 là mt cp.

364.

若要十分都使盡;

遠在兒孫近在身.

Nhược yếu thập phần đô sử tận;

Viễn tại nhi tôn cận tại thân.

Nếu muốn dùng hết cả mười phần; xa hại cháu con, gần hại thân.

CHÚ:

– Nhược yếu 若要: Nếu mun; như: Nhược yếu nhân bt tri; tr phi k mc vi. 若要人不知; 除非己莫為. (Nếu mun người ta không biết, thì mình đừng làm.)

– Đô sử tận 都使盡: Đều dùng hết.

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 363. Không sử dụng hết mười phần thông minh, ý nói đừng cậy tuyệt đối vào sự thông minh của mình. Tục ngữ nói: Thông minh phản bị thông minh ngộ. 聰明反被聰明誤. (Mình b lm vì trí thông minh ca mình.) T ph cho mình thông minh, nên d b li lm, làm hi bn thân (cn ti thân 近在身) thm chí còn tác hi đến con cháu (vin ti nhi tôn 遠在兒孫).

 

365.

君子樂得做君子;

小人枉自做小人.

Quân tử lạc đắc tố quân tử;

Tiểu nhân uổng tự tố tiểu nhân.

Quân tử vui làm người tốt;

Tiểu nhân cam làm người xấu.

CHÚ:

– Uổng : Oan ung 冤枉, ung phí 枉費.

– Uổng tự tố tiểu nhân 枉自做小人: Cam lòng là xu xa hèn h (t cam ti b 自甘卑鄙). Vế sau có d bn: Tiu nhân oan ung t tiu nhân. 小人冤枉做小人. (K tiu nhân ung phí làm tiu nhân.)

NGHĨA LÝ:

Câu này ý nói: Quân tử tự nguyện là quân tử, phẩm chất cao thượng. Còn tiểu nhân cam tâm là tiểu nhân, xấu ác hèn hạ.

 

Trong xã hội, có hạng người sống thuần bằng bản năng như loài cầm thú. Họ là phàm phu tục tử, là kẻ hạ cấp về mặt đạo đức phẩm cách. Những kẻ này, theo Nho Giáo, đều gọi là tiểu nhân 小人 dù rng k y có chiếm gi địa v cao và giàu có trong xã hi. Trái li, quân t 君子 là người tiến hóa, biết khc phc bn thân, hiu mnh Tri, hiu đạo lý và biết định mnh con người là gì. Tính cht k tiu nhân tương phn rõ rt vi tính cht người quân t.

366.

好學者則庶民之子為公卿.

Hiếu học giả tắc thứ dân chi tử vi công khanh.

Ham học thì con nhà bình dân trở thành quan lớn.

CHÚ:

– Hiếu học 好學: Ham hc.

– Thứ dân 庶民: Dân thường, bình dân.

– Thứ dân chi tử 庶民之子: Con nhà dân thường.

– Công khanh 公卿: Công hu khanh tướng, tc đại quan 大官 (quan ln).

NGHĨA LÝ:

Con em nhà thường dân, nếu ham học, sẽ đỗ đạt ra làm quan lớn.

367.

不好學者則公卿之子為庶民.

Bất hiếu học giả tắc công khanh chi tử vi thứ dân.

Không ham học thì con nhà quan lớn trở thành hạng bình dân.

NGHĨA LÝ:

Nếu ham ăn chơi và không ham học, con nhà quan sẽ không có chức phận gì. Cha làm quan chỉ có một thời. Khi nhà sa sút, con nhà quan trở thành kẻ bình dân. Câu này và câu 366 nhấn mạnh sự học có thể thay đổi số phận con người.

368.

惜錢莫教子;

護短莫從師.

Tích tiền mạc giáo tử;

Hộ đoản mạc tòng sư.

Tiếc tiền thì đừng dạy con;

Bao che lỗi trẻ thì đừng cho đi học.

CHÚ:

– Tích tiền 惜錢: Tiếc tin, quý trng đồng tin (ái tích tin tài 愛惜錢財).

– Mạc: Đừng, ch (t Vit c gi tri là ma).

– Hộ đoản 護短: Bo h s đon, bao che khuyết đim.

– Tòng sư 從師: Theo thy, đi hc thy.

NGHĨA LÝ:

Nếu tiếc tiền bạc, sẽ không giáo dục con cái tốt.Giáo dục con cái phải đầu tư nhiều tiền bạc. Trừ con em nhà nghèo học giỏi có thể tự lực được, phần đông con em bình thường phải tốn kém rất nhiều về việc học. Nếu cha mẹ tiếc tiền, thì đừng dạy con nữa. Trẻ đi học, thầy dạy điều phải và giúp nó sửa chữa lỗi lầm. Nếu bao che khuyết điểm của con, đừng cho nó theo học thầy làm chi.

369.

記得舊文章,

便是新舉子.

Ký đắc cựu văn chương,

Tiện thị tân cử tử.

Nhớ được văn chương xưa, ấy là tân cử nhân.

CHÚ:

– Ký : 1/ Nh (ký tính 記性: sc nh; cường ký 強記: nh mnh, nh dai); 2/ Ghi chép (ký tái 記載, s ký 史記).

– Ký đắc 記得: Nh được.

– Cựu văn chương 舊文章: Văn chương xưa, tc văn chương (kinh đin) ca Thánh Hin (Thánh Hin văn chương 聖賢文章).

– Tiện thị 便是: y là, tc là.

– Tân cử tử 新舉子: Tân c nhân 新舉人, người mi đậu c nhân.

NGHĨA LÝ:

Nhớ được văn chương xưa (kinh điển Thánh Hiền), sẽ thi đậu là một tân cử nhân. Ngày xưa theo khoa cử, học thuộc kinh điển (tứ thư, ngũ kinh) để đỗ đạt nên ông nghè, cử nhân, tiến sĩ. Ngày nay học hiểu và nhớ được kinh điển cổ, là để tu tâm dưỡng tính, huấn luyện tình cảm. Học phải hiểu sâu, nhớ lâu, vận dụng tốt vào đời sống thường ngày.

370.

人在家中坐, 禍從天上落.

Nhân tại gia trung tọa, Họa tòng thiên thượng lạc.

Người ngồi ở trong nhà, họa từ trời rơi xuống.

CHÚ:

– Tại gia trung 在家中: trong nhà. – Lạc : Rơi, rng.

NGHĨA LÝ:

Ngồi yên trong nhà, chẳng đi đâu, mà vẫn bị tai bay họa gởi. Đời người lắm lúc gặp rủi ro, xui xẻo, không làm gì cả mà bỗng dưng gặp đại nạn. Nếu xét về mặt tâm linh, có thể là một sự báo ứng nào đó. Cho nên người xưa luôn khuyên mọi người làm lành lánh dữ, giữ âm đức về sau. Như vậy mới mong sống bình an trọn đời.

371.

但求心無愧, 不怕有後災.

Đãn cầu tâm vô quý, bất phạ hữu hậu tai.

Chỉ mong không thẹn với lòng, chẳng sợ tai họa mai sau.

CHÚ:

– Đãn cầu 但求: Ch mong (ch cu 只求).

– Quý : H thn, xu h (quý tc 愧怍); vn tâm vô quý 問心無愧 (không thn vi lòng);

Mạnh Tử nói: Ngưỡng bất quý ư Thiên; phủ bất tạc ư nhân. 仰不愧於天, 俯不怍於人. (Ngước lên không thn vi Tri; cúi xung không h vi người.)

NGHĨA LÝ:

Chỉ mong sống chính trực đạo đức, không hổ thẹn với lương tâm; còn chuyện tai họa về sau thì chẳng sợ, vì làm lành gặp lành, làm ác gặp ác. Sống thiện lành, giấc ngủ an lành, nửa đêm không sợ ai gõ cửa.

372.

只有和氣去迎人; 那有相打得太平.

Chỉ hữu hòa khí khứ nghinh nhân; Na hữu tương đả đắc thái bình?

Chỉ có hòa khí tiếp đãi người; đánh nhau mà có thái bình sao?

CHÚ:

– Chỉ hữu 只有: Ch có. – Hòa khí 和氣: Thái độ ôn hòa. – Khứ : Đi.

– Nghinh nhân 迎人: Tiếp đón người khác, đối đãi người khác (đối đãi tha nhân 對待他人).

– Na hữu 那有 (哪有): Làm sao có. – Tương đả 相打: Đánh nhau.

– Thái bình 太平: An n 安穩, an ninh 安寧, bình an vô s 平安無事.

NGHĨA LÝ:

Chú trọng thái độ ôn hòa khi giao tiếp mọi người. Ôn hòa mềm mỏng luôn chinh phục đối phương. Xung đột đấu đá nhau thì không thể nào an vui được.

373.

忠厚自有忠厚報; 豪強一定受官刑 .

Trung hậu tự hữu trung hậu báo; Hào cường nhất định thụ quan hình.

Trung hậu tự có báo đáp trung hậu; cường hào chắc chắn bị quan trừng phạt.

CHÚ:

– Trung hậu 忠厚: Tht thà nhân hu (trung thc khoan hu 忠實寬厚).

– Trung hậu báo 忠厚報: Được đáp li bng s trung hu.

– Hào : 1/ Tài gii (anh hào 英豪, hào kit 豪傑, văn hào 文豪, t hào 自豪); 2/ Rng rãi (hào phóng 豪放, hào sng 豪爽); 3/ Hào hip, nghĩa hip; 4/ Ngang ngược.

– Hào cường 豪強: K có thế lc trong vùng ngang ngược c hiếp dân (cường hào ác bá 強豪惡霸).

– Nhất định一定: Chc chn.

– Thụ quan hình 受官刑: Chu hình pht ca quan, b pháp lut trng tr.

NGHĨA LÝ:

Người trung hậu sẽ được đáp lại bằng sự trung hậu; kẻ ngang ngược hiếp dân sẽ bị pháp luật trừng phạt đích đáng. Đó là luật báo ứng công bằng.

374.

人到公門正好修, 留些陰德在後頭.

Nhân đáo công môn chính hảo tu, Lưu ta âm đức tại hậu đầu.

Vừa vào cửa công nên tu dưỡng, lưu chút âm đức cho cháu con.

CHÚ:

– Chính hảo 正好: Va đúng lúc (kháp ho 恰好, cương ho 剛好). – Ta : Mt ít, chút.

– Âm đức 陰德: Phúc đức do âm thm làm vic thin. – Hậu đầu 後頭: Hu đại, con cháu.

NGHĨA LÝ:

Ai vào cửa công để làm quan, nên tu dưỡng, làm điều thiện cho dân để lưu chút âm đức cho con cháu mình.

375.

為人何必爭高下; 一旦無命萬事休.

Vi nhân hà tất tranh cao hạ; Nhất đán vô mệnh vạn sự hưu.

Làm người cần chi tranh cao thấp; một mai mất mạng vạn sự ngưng.

CHÚ:

– Hà tất 何必: Cn gì, sao li phi, bt tt. – Nhất đán 一旦: Mt mai, mai này.

– Vô mệnh 無命: T vong, mt mng. – Hưu : Ngưng, dng li.

NGHĨA LÝ:

Cuộc sống là vô thường, nay còn mai mất, sao lại phải tranh giành hơn thua với nhau?

376.

山高不算高; 人心比天高.

Sơn cao bất toán cao; Nhân tâm tỷ thiên cao.

Núi cao chẳng kể là cao; lòng người còn cao hơn trời.

NGHĨA LÝ:

Tham vọng con người là vô hạn, còn cao hơn trời, kể gì ngọn núi cao. So với vũ trụ con người chỉ là hạt bụi, nhưng họ có thể tính được tuổi và khoảng cách các vì sao, phóng phi thuyền đổ bộ mặt trăng, và trở về trái đất an toàn. Những tham vọng tích cực đã dẫn đến những phát minh diệu kỳ, cải thiện cuộc sống của con người, khiến họ ngày càng văn minh hơn.

377.

白水變酒賣; 還嫌豬無糟.

Bạch thủy biến tửu mại; Hoàn hiềm trư vô tao.

Nước lã làm rượu bán; chỉ hiềm lợn không hèm.

CHÚ:

– Bạch thủy 白水: Nước lã. – Hiềm : Nghi ng; oán gin.

– Hoàn hiềm 還嫌: Ch him, gin rng. – Trư : Heo, ln.

– Tao : Bã rượu, hèm rượu, hèm (tu tao 酒糟). – Mại : Bán (mãi : mua).

NGHĨA LÝ:

Lấy nước lã pha chế linh tinh làm rượu bán. Vì không nấu rượu, nên không có bã hèm cho lợn ăn.

378.

貧寒休要怨; 富貴不須驕.

Bần hàn hưu yếu oán; Phú quý bất tu kiêu.

Nghèo chớ nên hờn oán; giàu không nên kiêu căng.

CHÚ:

– Bần hàn 貧寒: Nghèo và đói rét. – Hưu yếu 休要: Ch nên.

– Oán : Oán hn, gin (oán Thiên vưu nhân 怨天尤人: gin Tri trách người).

– Bất tu 不須: Không nên.

– Kiêu : T ph cho mình hơn người (kiêu căng 驕矜, kiêu ngo 驕傲, t mãn 自滿).

NGHĨA LÝ:

Nhiều người tin mù quáng vào số mệnh, cho rằng mình bị Trời đày nên nghèo hèn đói rét. Do đó họ có thói oán Trời trách người. Trách người vì khinh nghèo. Dân gian hay nói: Giàu có bị ghét, đói rét bị khinh, thông minh bị diệt. Giàu vốn bị thiên hạ ghét rồi, mà lại còn khoe khoang kiêu ngạo nữa, quả là chuốc họa vào thân. Trời đất xoay vần, thịnh suy hoán đổi. Một cơn gió bụi nổi lên, đất trời đảo lộn. Kẻ phú quý bỗng sa cơ nếm phong trần; người áo vải tự cường nên nghiệp lớn. Đời luôn ghét kẻ tài danh kiêu ngạo, mà phù trợ kẻ khiêm cung, tự cường. Nên người thông đạt luôn khiêm cung, nhún mình học hỏi.

379.

善惡隨人作; 禍福自己招.

Thiện ác tùy nhân tác; Họa phúc tự kỷ chiêu.

Lành dữ tùy mình làm; họa phúc tự mình tìm lấy.

CHÚ:

Chiêu : Cu, tìm, tuyn ly; như: chiêu sinh 招生

(nhận học sinh), chiêu hiền 招賢 (tìm người hin).

NGHĨA LÝ:

Con người tùy ý làm lành hay dữ, và tự nhận lấy phúc hay họa. Kinh Cảm Ứng nói: Họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu; thiện ác chi báo như ảnh tùy hình. 禍福無門, 惟人自召; 善惡之報, 如影隨形. (Ha và phúc không có ca no [nht định] mà do con người vi đến cho mình.)

380.

奉勸君子 , 各宜守己 .

只此呈示 , 萬無一失 .

Phụng khuyến quân tử, các nghi thủ kỷ.

Chỉ thử trình thị, vạn vô nhất thất.

Kính khuyên các quân tử, mỗi người giữ phận mình.

Chỉ cần làm theo lời trình bày trên đây, tuyệt đối sẽ không sai lầm.

CHÚ:

– Phụng khuyến 奉勸: Kính khuyên.

– Các nghi 各宜: Mi người nên.

– Thủ kỷ 守己: An phn th k 安分守己 (gi yên phn mình).

– Chỉ thử 只此: Ch như này, ch như trên đây.

– Trình thị 呈示: Trình bày cho xem (trình hin 呈現).

– Thất : Li lm (quá tht 過失).

– Vạn vô 萬無: Hoàn toàn không (tuyt vô 絕無).

– Vạn vô nhất thất 萬無一失: Tuyt đối không sai lm.

NGHĨA LÝ:

Câu này kết thúc sách Tăng Quảng Hiền Văn: Xin quý vị hãy giữ phận mình; chỉ cần làm theo lời trình bày trên đây, tuyệt đối sẽ không sai lầm. Cuộc sống quý vị sẽ bình yên.

HẾT

Ngun Lê Anh Minh dch, chú - Tăng Qung Hin Văn - Tinh hoa x thế - Nxb Hng Đức - 2022

Sách Tăng Quảng Hiền Văn thật là trí khôn của người xưa, nó phơi bày mọi mặt của nhân tình thế thái. Có nhiều câu khuyên nhắc như:

Mạc tín trực trung trực, tu phòng nhân bất nhân 莫信直中直; 須防仁不仁. Câu này nhắc: chớ tin ai. Người ta ai ai cũng xây dựng cho mình một bộ mặt tốt đẹp cả, nhưng ai vốn cũng có góc tối, chỉ khi nào lợi ích bị đụng chạm thì mặt tối ấy dễ dàng bộc lộ ra.

Sơn trung hữu trực thụ, thế thượng vô trực nhân 山中有直樹; 世上無直人. Câu này lại quá cực đoan, có vẻ như mất niềm tin vào con người, nhưng ở đây cổ nhân chỉ nhắc chúng ta không được đặt niềm tin vào bất kì ai.

人情莫道春光好, 只怕秋來有冷時.

Nhân tình mạc đạo xuân quang hảo, chỉ phạ thu lai hữu lãnh thời.

Chớ nói tình người đẹp như ánh sáng mùa xuân, chỉ sợ khi mùa thu tới thì trở nên lạnh lùng.

有茶有酒多兄弟; 急難何曾見一人. Hữu trà hữu tửu đa huynh đệ; cấp nạn hà tằng kiến nhất nhân.

Có trà có rượu thì lắm anh em; lúc nguy cấp chưa từng thấy một ai.

Đề phòng và đề phòng mãi mãi, nhưng rốt cuộc vẫn phải là:

Ninh khả nhân phụ ngã, thiết mạc ngã phụ nhân

寧可人負我, 切莫我負人

Thà người phụ ta, chứ tuyệt đối ta không phụ người.

Đây là lối ứng xử đúng đắn, nó khác hẳn với

Ninh ngã phụ nhân, vô nhân phụ ngã

寧我負人, 毋人負我

Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta - tương truyền của Tào Tháo.

Tái tam tu trọng sự, đệ nhất mạc khi tâm

再三須重事, 第一莫欺心.

Việc gì cũng phải cân nhắc, thận trọng, nhưng trước tiên là đừng làm trái với lương tâm.

得忍且忍; 得耐且耐.

Đắc nhẫn thả nhẫn; đắc nại thả nại.

Nhịn được thì nhịn, chịu được thì chịu

Hay

不忍不耐, 小事成大.

Bất nhẫn bất nại, tiểu sự thành đại. Không nhẫn nhịn, không chịu đựng, việc nhỏ thành lớn

Như vậy, nhẫn được thì nhẫn, chịu được thì chịu. Nếu không chịu được thì sao? Chuyện nhỏ sẽ thành lớn. Nếu ta có gan đương đầu thì chẳng sợ gì cả

Trong không gian mạng này, có mấy loại người ta cần đề phòng như:

Lai thuyết thị phi giả, tiện thị thị phi nhân

說是非者, 便是是非人

Kẻ đến nói chuyện thị phi chính là kẻ gây chuyện thị phi

Những kẻ này cần phải tiêu diệt !

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN 1