TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN 1

 

Lời nói đầu

(Sách Tăng Quảng Hiền Văn - Tinh hoa xử thế của tác giả Lê Anh Minh dịch chú)

1. Nhan đề sách và tác giả

Tăng Quảng Hiền Văn 增廣賢文 là sách dạy nhi đồng tại Trung Quốc ngày xưa, còn gọi là Tích Thời Hiền Văn 昔時賢文, Cổ Kim Hiền Văn 古今賢文. Nhan đề này được thấy sớm nhất trong hý khúc Mẫu Đơn Đình 牡丹亭 xuất hiện giữa những năm Vạn Lịch đời Minh (1572-1620). Theo đó có thể thấy sách này được viết trễ nhất là giữa những năm Vạn Lịch. Về sau, trải qua hai đời Minh và Thanh, sách luôn được tăng bổ, mới có diện mạo như ngày nay, gọi là Tăng Quảng Tích Thời Hiền Văn 增廣昔時賢文, quen gọi là Tăng Quảng Hiền Văn 增廣賢文. Tên tác giả chưa từng thấy ghi trên bản sách nào, chỉ biết vào đời vua Đồng Trị 同治 nhà Thanh (1862-1875) có Nho sinh Chu Hy Đào 周希陶 từng hiệu đính lại (trùng đính) sách này. Rất có khả năng đây là kết tinh của tác phẩm dân gian.

2. Nội dung sách

Tương tự sách Minh Tâm Bảo Giám 明心寶鑑, Tăng Quảng Hiền Văn gồm nhiều câu rời hoặc cặp câu, sưu tập từ dân gian hoặc trích tuyển từ một số kinh, sách, truyện. Nội dung chủ yếu là khuyến thiện, giáo dục đạo làm người, đối nhân xử thế theo quan niệm Tam Giáo. Minh Tâm Bảo Giám xếp cáccâu theo hai mươi chủ đề, mỗi chủ đề là một thiên (cũng như chương); nhưng Tăng Quảng Hiền Văn chỉ thu thập các câu rời mà không xếp theo chủ đề. Sách đã có tự lâu đời nên phần nhiều phản ánh nền văn hóa cổ truyền, một số ý tưởng không còn phù hợp với thời hiện đại, nhưng nhìn chung sách có nhiều tư tưởng khôn ngoan tích cực, có thể vận dụng vào cuộc sống hiện nay. Chính mặt tích cực đó là động lực dẫn đến bản dịch tiếng Việt này.

3. Nguyên tắc dịch chú

Bản dịch tiếng Việt chủ yếu căn cứ bản chữ Hán nhan đề Tăng Quảng Hiền Văn 增廣賢文 do Thần Nam Đường Thư Cục 辰南堂書局 ấn hành tại Đài Loan, năm Dân Quốc 34 (tức 1945). Sách chỉ liệt kê các câu, không ghi tác giả, không người hiệu đính, không có chú thích và bình giải. Ngoài ra tôi tham khảo thêm bản Tăng Quảng Hiền Văn do Quách Tuấn Phong 郭俊峰 và Trương Phỉ Châu 張菲洲 bình dịch, Cát Lâm Văn Sử xuất bản xã, 1999. Bản 1945 có khoảng 350 câu. Bản 1999 được bổ sung 30 câu nữa. Tổng cộng 380 câu. Số câu này chỉ tượng trưng, vì có khi bản chữ Hán xếp từng cụm gồm vài câu có cùng chủ đề. Phần dịch nghĩa chú trọng sát ý, gọn gàng, đôi lúc dịch thoát cho dễ nghe, nhưng phần chú thích giảng phụ thêm cho rõ lời dịch. Vì nguyên bản chữ Hán đã trải qua một thời gian dài, từ đời Minh, nên câu chữ có phần sai biệt giữa các bản in. Do đó, tôi ghi chú thêm dị bản, nếu có.

4. Cách trình bày

a/ Nguyên văn chữ Hán (phồn thể).

b/ Phiên âm Hán Việt.

c/ Chú: Giải nghĩa kỹ từ ngữ Hán, phụ thêm bình luận.

d/ Nghĩa lý: Thêm lời diễn ý cho dễ hiểu câu nói xưa.

e/ Cuối sách là bản mục từ (index).

Bản dịch tiếng Việt này chủ yếu giúp độc giả hiểu được tư tưởng minh triết của người xưa, có thể hữu ích cho đời sống hiện nay. Ngoài ra đây còn là tư liệu tự học thêm về chữ Hán theo lối văn xưa (văn ngôn) rất thú vị. Dịch giả mong đón nhận góp ý xây dựng của quý vị.

Nhiêu Lộc, tháng 3 năm 2021

LÊ ANH MINH

======

Tôi không biết nhiều về cụ Lê Anh Minh, tất nhiên là cụ chẳng biết tôi. Tôi biết đến cụ như một cái duyên, may mắn được hầu chuyện cùng cụ vài lần qua email, qua đó tôi cũng thấy được Nhân cách cao đẹp của cụ.

Sách này là sách Ấn tống nên tôi không ngại mà sao chép lại, hi vọng giúp ích cho cộng đồng (đúng với cái Tâm mà cụ Lê Anh Minh mong muốn khi dịch chú sách này).

昔時賢文, 誨汝諄諄, 集韻増廣, 多見多聞.

1. Tích thời hiền văn, Hối nhữ truân truân, Tập vận Tăng Quảng,

Đa kiến đa văn.

Lời thánh hiền xưa, dạy ngươi ân cần, gom vần Tăng Quảng, hiểu rộng biết tăng.

CHÚ:

Tích thời 昔時: Thuở xưa.

– Hiền văn 賢文: Lời văn của thánh hiền.

– Hối : dạy bảo.

– Nhữ (cũng viết ): Ông, anh, mi, ngươi. Nhữ là đại từ ngôi hai số ít (chữ hiện đại là nễ ). Thí dụ: Nhữ tương hà vãng? 汝將何往? (Anh sắp đi đâu?) Số nhiều là nhữ đẳng 汝等. Trong cổ văn, đại từ ngôi hai là: quân , nhữ , nhữ, nhĩ, nhược , nãi , nhi .

– Truân truân 諄諄: Ân cần, nhẫn nại.

– Tập vận 集韻: Gom lại theo vần.

– Tăng quảng 増廣: Tăng rộng (lời văn).

– Đa kiến 多見: Thấy nhiều.

– Đa văn 多聞: Nghe nhiều.

– Kiến văn 見聞: Hiểu biết, tri thức, kiến thức.

NGHĨA LÝ: Giải thích ý nghĩa nhan đề và mục đích làm sách Tăng Quảng Hiền Văn.

2

觀今宜鑒古; 無古不成今.知己知彼; 將心比心.

Quán kim nghi giám cổ; vô cổ bất thành kim.

Xem nay nên xét xưa; không xưa chẳng có nay.

CHÚ:

Chữ đọc là quan: Xem, nhìn sự vật cụ thể, như quan sát 觀察; đọc là quán : Soi xét kỹ, thấu đáo đối với cái không cụ thể, như quán tâm 觀心, Quán Thế Âm 觀世音. Ở đây chữ kim bao gồm sự vật, hành vi, nhân tình thế thái của đời nay nói chung, nên đọc 觀今 là quán kim.

– Nghi : Nên, phải (tiếng hiện đại là ưng cai 應該, ưng đương 應當).

Thí dụ: Bất nghi như thử. 不宜如此. (Không nên như vậy.)

Bất nghi thao chi quá cấp. 不宜操之過急. (Anh đừng vội làm việc đó.)

– Giám (): 1/ (danh từ) Gương soi, tấm gương noi theo; 2/ (động từ) Soi xét, xét kỹ.

– Chữ cổ ở đây ám chỉ kinh nghiệm và giáo huấn của cổ nhân.

NGHĨA LÝ: Có xưa mới có nay; đó là sự tiến triển theo thời gian. Kinh nghiệm và giáo huấn của cổ nhân hướng dẫn hành vi của người đời nay.

3. 知 己 知 彼; 將 心 比 心

Tri kỷ tri bỉ; tương tâm tỷ tâm.

Biết ta biết người; lấy lòng ta đọ lòng người.

CHÚ:

– Kỷ : Bản thân ta (tự kỷ 自己).

– Bỉ : Kẻ khác (tha nhân 他人, biệt nhân 別人).

– Tri kỷ 知己: 1/ Tự biết mình; 2/ Kẻ hiểu mình, như tri âm 知音. Thành ngữ tri kỷ tri bỉ bắt nguồn từ binh pháp Tôn Tử 孫子 (Mưu Công 謀攻): Tri bỉ tri kỷ; bách chiến bất đãi. 知彼知己; 百戰不殆. (Biết địch biết mình; trăm trận không nguy.)

– Tương : Lấy, cầm (cùngnghĩa: bả , nã, dĩ , dụng ).

– Tỷ : So sánh. Thành ngữ tương tâm tỷ tâm 將心比心 (đặt mình vào hoàn cảnh người khác để hiểu họ) có nghĩa gần như câu: Suy kỷ cập nhân. 推己及人. (Lấy bụng ta suy bụng người.)

NGHĨA LÝ: Tri kỷ tri bỉ, tương tâm tỷ tâm là cách ứng xử nhân văn, đặt mình vào hoàn cảnh địa vị người khác để thông cảm và hiểu họ. Nó là đạo trung thứ 忠恕 của Nho Giáo, như chép trong Luận Ngữ (Vệ Linh Công, 23): Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân. 己所不欲勿施於人. (Cái gì mình không muốn kẻ khác gây cho mình thì mình đừng làm điều đó cho họ.)

4.

酒逢知己飲;詩向會人吟,

Tửu phùng tri kỷ ẩm; Thi hướng hội nhân ngâm.

Gặp bạn tri kỷ mới uống rượu; cùng người am hiểu mới ngâm thơ.

CHÚ:

- Phùng : Gặp gỡ (như ngộ ). Thí dụ: tương phùng 相逢: gặp nhau (tương ngộ 相遇); trùng phùng 重逢: gặp lại (tái ngộ 再遇).

- Hướng: Hướng đến.

- Hội nhân 會人: Người am hiểu thơ văn.

5.

相識滿天下; 知心能幾人,

Tương thức mãn thiên hạ; Tri tâm năng kỷ nhân.

Biết nhau đầy thiên hạ; hiểu ta được mấy người.

CHÚ:

- Thức : Biết (tri ), hiểu biết (hội ). Tương thức 相識: Biết nhau.

- Mãn 滿: Đầy.

- Tri tâm 知心: Hiểu lòng nhau, như tri âm 知音, tri kỷ 知己.

- Năng : Có thể.

- Kỷ : Bao nhiêu, mấy.

Thơ Cao Thích 高適 (Biệt Đồng Đại 别董大):

Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ / Thiên hạ thùy nhân bất thức quân.

莫愁前路無 知己, 天下誰人不識君.

Chớ buồn nẻo trước không tri kỷ.

Thiên hạ ai người chẳng biết anh.

Dị bản: Tương thức mãn thiên hạ / Tri kỷ hữu kỷ nhân.

相識滿天下/知己有幾人. Ý nghĩa cũng vậy.

6.

相逢好似初相識; 到老終無怨恨心,

Tương phùng hảo tự sơ tương thức;

Đáo lão chung vô oán hận tâm.

Gặp nhau như là mới quen biết; rốt cuộc tới già không oán hận.

CHÚ:

- Hảo tự 好似: Giống như.

- Sơ : Ban đầu, ban sơ, lúc đầu.

- Oán hận tâm 怨恨心: Lòng oán hận.

NGHĨA LÝ: Khi gặp nhau, nên tôn trọng nhau như mới lần đầu quen biết. Dù quen biết lâu, nên kính nhau như khách (tương kính như tân 相敬如賓). Thói thường người ta quen lâu lờn mặt, hay đối đãi kém lễ độ làm đối phương oán hận.

7.

近水知魚性; 近山識鳥音,

Cận thủy tri ngư tính;  Cận sơn thức điểu âm.

Gần sông biết tính cá; gần núi hiểu tiếng chim.

CHÚ:

- Thủy : Nước; chỉ chung giang hà 江河 (sông), hồ (hồ), hải (biển).

- Điểu âm 鳥音: Tiếng chim hót.

NGHĨA LÝ: Con người thích ứng hoàn cảnh, có kinh nghiệm với môi trường sống, ở đâu quen đó. Ở gần sông nước thì rành tập tính loài cá; ở gần núi non thì biết và phân biệt được tiếng chim.

8.

易漲易退山溪水; 易反易覆小人心,

Dị trướng dị thoái sơn khê thủy;

Dị phản dị phúc tiểu nhân tâm.

Nước khe núi dễ dâng dễ rút; lòng tiểu nhân dễ tráo dễ trở.

CHÚ:

- Chữ đọc dị (dễ dàng); đọc dịch (thay đổi).

- Khê : Khe nước ở trên núi (sơn khê 山溪).

- Trướng : Phình to, [nước] dâng tràn.

- Thoái 退: Lui, [nước] rút.

- Phản: Trở ngược, trở về, phản đối, mưu phản.

- Chữ đọc Phúc (lật úp), như: Thủy năng tái chu diệc năng phúc chu. 水能載舟 亦能覆舟. (Nước có thể nâng đẩy thuyền cũng có thể lật úp thuyền.) Đọc Phú (che chở), như: Thiên phú địa tải. 天覆地載. (Trời che đất chở.)

NGHĨA LÝ: Lòng dạ tiểu nhân dễ tráo trở cũng như nước khe núi dễ dâng lên, dễ rút xuống.

 

9.

運去金成鐵; 時來鐵似金,

讀書須用意; 一字值千 .

Vận khứ kim thành thiết;  Thời lai thiết tự kim.

Độc thư tu dụng ý; Nhất tự trị thiên kim.

Hết thời vàng thành sắt; gặp thời sắt như vàng.

Đọc sách phải dùng ý; một chữ đáng giá ngàn lượng vàng.

CHÚ:

- Vận : Thời vận, vận may.

- Vận khứ運去: Vận đi, hết thời.

- Thời : Thời vận.

- Thời lai 時來: Thời đến, gặp thời, gặp may. - Kim: Vàng.

- Thiết : Sắt, như thiết lộ 鐵路(đường sắt, đường xe lửa).

- Độc : Đọc, như độc thư 讀書(đọc sách), độc giả 讀者(người đọc).

- Tu : Phải, nên (tất tu 必須, ưng đương 應當); từ Việt cổ gọi là tua.

– Dụng ý 用意: Dùng ý suy nghĩ nghĩa lý của câu chữ.

- Trị : Đáng giá, trị giá.

NGHĨA LÝ:

Ở đời hay chẳng bằng hên; tài ba không qua thời vận.

Bài Cảm Hoài 感懷 của Đặng Dung 鄧容 than thở:

Thời lại đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

時來屠釣成功易 運去英雄飲恨多.

Gặp thời thì bọn mố heo, câu cá cũng dễ thành công

Hết thời thì bậc anh hùng nuốt hận nhiều.

Thời xưa công cụ ghi chép quý hiếm; người ta khắc vạch trên thẻ tre (thư khế), thắt nút dây để ghi nhớ (kết thằng). Đến đời Tần có Mông Điềm 蒙恬 chế tạo bút lông; đời Hán có Thái Luân 蔡倫 chế tạo giấy, và Hình Di 邢夷 chế tạo mực. Vì công cụ ghi chép quý hiếm, nên văn chương sáng tác phải cô đọng, để tiết kiệm việc ghi chép. Mỗi chữ viết ra là bao nhiêu dụng tâm của tác giả, nên nói nhất tự trị thiên kim (một chữ đáng giá ngàn lượng vàng). Do đó khi đọc sách thì người đọc phải gắng suy nghĩ thật sâu để hiểu thâm ý tác giả.

10.

逢人且說三分話, 未可全拋一片心

Phùng nhân thả thuyết tam phân thoại

Vị khả toàn phao nhất phiến tâm.

Gặp người hãy nói đôi ba lời, chưa thể trút trọn nỗi lòng cho họ nghe.

CHÚ:

- Thả : Hãy.

- Thoại : Lời nói.

- Tam phân thoại 三分話: Ba phần lời nói, ý là nói sơ sơ dăm ba câu thôi.

- Vị : Chưa; chữ vị dễ lầm với mạt (ngọn), như: bản mạt 本末 (gốc và ngọn).

- Vị khả 未可: Chưa có thể.

- Toàn : Hoàn toàn, trọn vẹn.

- Phao : Ném, vất.

- Nhất phiến tâm 一片心: Một tấm lòng.

NGHĨA LÝ: Nói năng nên thận ngôn (cẩn thận lời nói), vì lòng người sâu hiểm khó dò; do đó chớ trút cạn tâm sự gan ruột cho người khác nghe.

Cổ nhân khuyên: Hại nhân chi tâm bất khả hữu; phòng nhân chi tâm bất khả vô.

害人之心不可 ;防人之心不可無,

Lòng hại người thì không thể có; lòng đề phòng người thì chẳng thể không.

11.

有意栽花, 花不發; 無心插柳, 柳成陰.

Hữu ý tài hoa, hoa bất phát;

Vô tâm sáp liễu, liễu thành âm.

Có ý trồng hoa, hoa chẳng nở; vô tâm cắm liễu, liễu um tùm.

CHÚ:

- Tài : Trồng (cây), thường nói tài bồi 栽培(vun trồng, dưỡng dục nhân tài).

- Phát : Phát triển, nảy nở. Để nói hoa nở thì dùng từ hoa khai 花開. Thí dụ: thiết thụ hoa khai 鐵樹花開(cây sắt nở hoa; ám chỉ việc hy hữu).

- Vô tâm 無心: Không cố ý, làm đại, làm bừa.

- Sáp : Cắm, cài, chen vào.

- Âm : Bóng râm, bóng mát, um tùm.

NGHĨA LÝ: Cố ý làm thì không thành công; làm đại, làm bừa cho vui thì lại được kết quả tốt.

12.

畫虎畫皮難畫骨; 知人知面不知心,

Họa hổ họa bì nan họa cốt;

Tri nhân tri diện bất tri tâm.

Vẽ cọp chỉ vẽ được da, khó vẽ được xương; biết người thì biết mặt chứ không biết lòng.

CHÚ:

Câu này có dị bản; truyện Thủy Hử (Hồi 45) chép: Họa long họa hổ nan họa cốt; tri nhân tri diện bất tri tâm. 龍畫虎難畫骨;知人知面不知心. (Vẽ rồng vẽ cọp thì khó vẽ xương; biết người thì biết mặt chứ không biết lòng.)

NGHĨA LÝ:

Trong giao tiếp, chớ để bề ngoài sang trọng, xinh đẹp và lời nói đường mật của đối phương làm mờ mắt ta. Tây phương cũng nói: Appearances can be deceiving. (Ngoại hình có thể dối lừa.) Hay là: All that glitters is not gold. (Không phải mọi thứ lấp lánh đều là vàng.) Đức Lão Tử (Đạo Đức Kinh, 81) nói: Tín ngôn bất mỹ. Mỹ ngôn bất tín. 信言不 ,美言不信. (Lời chân thành không hoa mỹ. Lời hoa mỹ không chân thành.)

 

13.

錢財如糞土; 仁義值千金,

Tiền tài như phẩn thổ;

Nhân nghĩa trị thiên kim.

Tiền bạc và tài sản như phân và đất;

Nhân ái và chính nghĩa đáng giá ngàn vàng.

CHÚ:

- Tài : Tài sản, của nả; phân biệt với: tài (tài năng), tài (tài liệu, vật liệu), tài (vun trồng).

- Phấn : Phân, cứt.

- Thổ : đất.

- Phần thổ 糞土 hay bị trích dẫn lầm là phấn thổ 粉土 (đất bột).

Câu nầy lấy từ sách Tỉnh Thế Hằng Ngôn 醒世恆言(quyền 17) của Phùng Mộng Long 馮夢龍(1574-1646) đời Minh, cũng là tác giả bộ Đông Chu Liệt Quốc.

NGHĨA LÝ:

Nhân nghĩa mới đáng quý, còn tiền bạc của nả như phân như đất mà thôi. Nhưng đáng buồn là thói đời lại trọng vật chất hơn nhân nghĩa và tài năng; do đó thường xem người giàu có mới là thành công, và mọi giá trị đều được xét trên cơ sở tiền bạc, vật chất.

14.

流水下灘非有意; 白雲出岫本無心

Lưu thủy há than phi hữu ý;

Bạch vân xuất tụ bản vô tâm.

Nước chảy xuống bãi không cố ý;

Mây trắng hiện ra từ hang núi vốn vô tâm.

CHÚ:

- Than :

1/ Đất ven nước, như: sa than 沙灘(còn cát), hải than 海灘 (bãi biển);

2/ Thác, ghềnh, như: hiểm than 險灘(ghềnh hiểm trở).

– Chữ hạ (ở dưới) làm động từ thì đọc là há (đi xuống). Chữ thượng (ở trên) cũng vậy, làm động từ thì đọc là thướng (đi lên).

- Tụ : Hang núi (sơn động 山洞).

NGHĨA LÝ:

Hiện tượng thiên nhiên diễn ra theo quy luật nhất định, không phải do ý muốn hay tình cảm như con người.

 

15.

當時若不登高望, 誰信東流海樣深,

Đương thời nhược bất đăng cao vọng,

Thùy tín đông lưu hải dạng thâm.

Bấy giờ nếu chẳng lên cao ngay để nhìn xa, ai tin được biển đông sâu thẳm.

CHÚ:

- Đương thời 當時:

1/ Bấy giờ (na thời hậu 那時候);

2/ Trước đây (tòng tiền 從前);

3/ Lập tức (mã thượng馬上, tức thời 即時, lập khắc 立刻).

- Nhược : Nếu như.

- Vọng :

1/ Nhìn lên cao hay nhìn xa, như: đăng cao vọng viễn 高望遠 (lên cao nhìn ra xa);

2/ Mong mỏi, như: nguyện vọng 願望, kỳ vọng 期望, tuyệt vọng 絕望.

- Thùy: Ai, người nào.

- Đông lưu 東流: Chảy về đông. Đông lưu hải dạng 東流海樣: Dáng biển do nước chảy về đông (tức biển đông).

- Dạng : Dáng vẻ, hình dạng.

- Thâm: sâu.

Nhưng lên núi cao nhìn biển thì thực tế thấy dáng nó mênh mông (hạo hãn 浩瀚) hơn là thấy sâu thẳm. Bản Tăng Quảng Hiền Văn in tại Đài Loan năm 1945 chép: Thùy tín đông lưu hải dạng thâm. 誰信東流海樣深, Dị bản: Thùy tín đông lưu hải dương thâm. 誰信東流海洋深. Có lẽ chữ dạng giản thể là , chép lầm thành chữ dương (biển). Dị bản: Thùy tri đông lưu hải dạng thâm.誰知東流海樣深. (Ai biết được biển đông sâu thẳm.)

NGHĨA LÝ:

Lên cao ám chỉ kinh nghiệm dày hay học cao hiểu rộng. Người học cao hiểu rộng và kinh nghiệm dày thì nhìn vấn đề bao quát, sâu rộng hơn kẻ bình thường. Bài thơ Đăng Quán Tước Lâu 鹳雀樓 của Vương Chi Hoán 王之渙 (688-742) đời Đường viết:

Dục cùng thiên lý mục / Cánh thướng nhất tằng lâu.

欲窮千里目 更上一層樓.

(Muốn nhìn xa tận ngàn dặm / Hãy lên thêm một tầng lầu nữa.)

16.

路遙知馬力; 事久見人心,

Lộ dao tri mã lực; Sự cửu kiến nhân tâm.

Đường xa mới biết sức ngựa; việc lâu mới thấy lòng người.

CHÚ:

- Dao (diêu) : Xa xôi.

- Cửu : Lâu. Thí dụ: Trường cửu 長久 (dài lâu), cửu ngưỡng 久仰 (ngưỡng mộ đã lâu), cửu biệt trùng phùng久別重逢(xa cách lâu nay gặp lại).

Câu này lấy từ sách Sự Lâm Quảng Ký事林廣記 (Kết Giao Cảnh Ngữ 結交警語) của Trần Nguyên Tịnh 陳元靚 đời Tống, Vế trước tương tự: Trường đồ tri mã lực.長途知馬力 (Đường dài mới biết ngựa hay.)

Dị bản về sau: Nhật cửu kiến nhân tâm 日久見人心 (Lâu ngày mới thấy lòng người.)

NGHĨA LÝ:

Người Việt nói:

Đường xa mới biết ngựa hay

Ở lâu mới biết người ngay hay tà.

Hoặc là:

Thức khuya mới biết đêm dài

Ở lâu mới biết lòng người dở hay.

17.

兩人一般心, 無錢堪買金,

一人一般心, 有錢難買 .

Lưỡng nhân nhất ban tâm, Vô tiền kham mãi kim.

Nhất nhân nhất ban tâm,  Hữu tiền nan mãi châm.

Hai người đồng lòng, không tiền cũng có thể mua vàng.

Mỗi người một lòng riêng, có tiền cũng khó mua cây kim.

CHÚ:

Nhất ban 一般: Một thứ, một loại; chung; thông thường; tương đồng.

- Kham : Có thể (năng cấu , khả dĩ 可以).

- Mãi : Mua; trái với mại (bán); mãi mại 買賣 (mua bán, việc mưu sinh).

– Châm : Cây kim. Thí dụ: châm cứu 針灸 (dùng kim chích huyệt, dùng ngải hơ nóng huyệt), ma thiết thành châm 磨鐵成針 (mài sắt thành kim).

NGHĨA LÝ:

Đoàn kết, đồng lòng thì thành công, nhất là sự đồng tâm hiệp lực giữa vợ chồng.

18.

相見易得好; 久住難為人,

Tương kiến dị đắc hảo Cửu trú nan vị nhân.

Mới gặp dễ có ấn tượng tốt;  Ở lâu khó vì người.

CHÚ:

- Trú : Ở. Thí dụ: cư trú 居住, tạm trú 暫住, thường trú 常住, trú ẩn 住隱.

- Chữ đọc vi (làm), đọc vị (vì ai). Thí dụ: vi nhân nan 為人難 (làm người thì khó), nan vị nhân 難為人 (khó vì người), vị quốc vong thân 為國亡身 (chết vì nước).

NGHĨA LÝ:

Lần đầu gặp nhau người ta thường làm khách, cư xử lễ độ, tạo ấn tượng tốt; nhưng nếu lưu trú lâu ngày thì làm phiền chủ nhà, và chủ nhà khó sẵn lòng với khách.

Người phương Tây nói: Fish and visitors stink after three days. (Cá và khách bốc mùi sau ba ngày.)

19.

馬行無力皆因瘦; 人不風流只為貧.

Mã hành vô lực giai nhân sấu; Nhân bất phong lưu chỉ vi bần.

Ngựa đi không sức mạnh đều vì gầy yếu;

Người chẳng phong lưu chỉ tại nghèo.

CHÚ:

- Mã hành 馬行: Ngựa đi. Mã tẩu 馬走: Ngựa chạy. Mã tẩu còn nghĩa là kẻ chăn ngựa (mã phu 馬夫, mã tốt 馬卒). Cụm từ ngưu đồng mã tẩu 牛童馬走(bọn trẻ chăn trâu ngựa) nói gọn là ngưu mã tẩu 牛馬走, chỉ địa vị thấp, hoặc được dùng tự xưng khiêm hạ.

- Giai : Đều (toàn , đô ). Thí dụ: Nhân nhân giai tri. 人人皆知 (Ai cũng biết; mọi người đều biết.)

- Nhân : Bởi vì (nhân vi因為).

- Sấu : Gầy gò, ốm yếu. Sấu nhược 瘦弱(gầy yếu); trái nghĩa là mập (bàn , phì ).

- Phong lưu 風流: Dư giả nhàn hạ; êm đềm như gió thổi, nước trôi.

- Bần : Nghèo. Bần cùng 貧窮 (nghèo khó), bần phú 貧富 (nghèo và giàu).

 

20.

饒人不是痴漢; 痴漢不會饒人,

Nhiêu nhân bất thị si hán; Si hán bất hội nhiêu nhân.

Người bao dung chẳng là kẻ ngu si; kẻ ngu si không thể bao dung người khác.

CHÚ:

- Nhiêu :

1/ Bao dung, tha thứ. Thí dụ: nhiêu thứ (tha thứ), nhiêu nhân 饒人(tha thứ kẻ khác);

2/ Dư dật sung túc, như: phong nhiêu 豐饒(dồi dào sung túc), phú nhiêu 富饒 (giàu có đầy đủ).

- Si (): Ngu si. Thí dụ: tham sân si 貪嗔癡(tham lam, sân hận, ngu si), gọi chung là tam độc 三毒 (ba thứ chất độc).

– Hán : Người đàn ông trưởng thành (thành niên nam nhân 成年男人), như: hán tử 漢子 (chàng trai), lão hán 老漢 (lão già).

- Si hán 痴漢: Người đàn ông ngu si.

– Hội : Có thể.

NGHĨA LÝ:

Người bao dung thì không cố chấp, chứ không phải ngu. Kẻ ngu thì cố chấp, nào biết khoan dung, tha thứ.

21.

是親不是親; 非親卻是親.

Thị thân bất thị thân; Phi thân khước thị thân.

Người thân thích thì chẳng thân; người dưng thì lại thân.

CHÚ:

- Thân : Thân thiết, thân thích, thân mật, thân nhân; cha mẹ (song thân 雙親).

- Thị thân 是親: Người ruột thịt, thân thích.

- Phi thân 非親: Không thân thích, người dưng.

- Khước : Nhưng, mà lại.

– Khước thị 卻是: chính là.

NGHĨA LÝ:

Câu này chơi chữ ở chữ thân (thân thiết; thân thích). Ý nói người thân thuộc ruột thịt thì chẳng thân thiết, còn người dưng thì lại thân thiết.

22.

美不美,鄉中水; 親不親,鄉人,

Mỹ bất mỹ, hương trung thủy; Thân bất thân, cố hương nhân.

Đẹp hay xấu cũng là sông nước quê hương; thân thích hay không cũng là người đồng hương.

CHÚ:

- Thủy : Sông, hiểu rộng là phong cảnh.

- Hương trung thủy 鄉中水: Cố hương thủy 鄉水(cảnh quê hương).

NGHĨA LÝ:

Phong cảnh quê hương dù đẹp hay không thì với ta vẫn thân thương. Người dù thân thích hay không, hễ là đồng hương thì ta vẫn thấy thân mến. Tình cảm con người đối với quê hương luôn tha thiết thương mến. Những người tha phương do đó hay lập hội đồng hương để giúp nhau và để không lẻ loi nơi đất khách, dù chẳng phải ruột thịt mà lại thân thiết (phi thân khước thị thân 非親卻是親).

23.

鶯花猶怕春光老; 豈可教人枉度春.

Oanh hoa do phạ xuân quang lão;  Khởi khả giáo nhân uổng độ xuân.

Chim oanh và hoa còn sợ mùa xuân qua hết; lẽ nào con người lại để uổng phí tuổi thanh xuân.

CHÚ:

- Oanh: Chim oanh.

- Do : Còn, vẫn còn; thậm chí (thượng thả 尚且).

- Phạ : Sợ; như: tham sinh phụ tử 貪生 怕死 (ham sống sợ chết).

- Xuân quang 春光: Ánh sáng mùa xuân; mùa xuân.

- Lão : (Thời gian) trôi qua, như: lưu thệ 流逝, tiêu thệ 消逝(qua hết).

- Khởi : Chẳng lẽ, lẽ nào, há.

– Khởi khả 豈可: Sao có thể (chẩm năng 怎能, chẩm ma khả dĩ 怎麼可以).

- Giáo : Để cho, khiến cho (sử 使, lịnh , nhượng ). - Giáo nhân 教人: Khiến người ta.

- Độ : Trải qua (độ quá 度過).

- Uổng : Uổng phí, vô ích. – Uổng độ : Trải qua vô ích (hư độ 虛度).

NGHĨA LÝ:

Nên quý tuổi trẻ, đừng để trôi qua vô ích.

24.

相逢不飲空歸去;

洞口桃花也笑人,

Tương phùng bất ẩm không quy khứ;

Động khẩu đào hoa dã tiểu nhân.

Gặp nhau chẳng uống rượu mà trở về suông; hoa đào cửa động cũng cười người thôi.

CHÚ:

- Quy : Trở về.

- Khứ : Đi.

- Quy khứ 歸去: Trở về (hồi khứ 回去), như: Ly gia dĩ cửu kim đương quy khứ. 離家已 久今當歸去. (Xa nhà đã lâu, nay phải trở về.)

- Không quy khứ 空歸去: Về suông, về mà chẳng làm gì.

- Động : Hang động.

- Dã : Cũng.

- Tiếu : Cười; cười chê (trào tiếu 嘲笑).

NGHĨA LÝ:

Nếu là bạn thân thì khi tái ngộ, phải uống với nhau vài ly tâm tình; chứ gặp suông rồi chia tay, thì hoa đào ở cửa động cũng chê cười các anh bạn này.

Hoa đào ở cửa động thì ít được ánh nắng chiếu vào nên ít nở hoa, mà nay nở hoa, hàm ý chê cười tình người.

Ở đây chẳng phải khuyên người ta uống rượu, mà là nói trong giao tiếp cũng cần nghi thức, nhấp môi một chút xã giao cũng được. Ta hay nói: Khách đến nhà không trà thì rượu. Đây cũng là nghi thức xã giao vậy.

25.

紅粉佳人休便老;

風流浪子莫教貧.

Hồng phấn giai nhân hưu tiện lão;

Phong lưu lãng tử mạc giao bần.

Người đẹp má hồng chớ chóng già;

Kẻ lãng tử phong lưu đừng để nghèo.

CHÚ:

– Hồng phấn 紅粉: Phấn hồng, vật trang điểm cho phụ nữ.

– Giai : Đẹp; như: giai nhân 佳人 (người đẹp), giai thoại 佳話 (chuyện thú vị), giai phẩm 佳品 (vật phẩm đẹp), giai cú 佳句 (câu nói hay).

– Hưu : Đừng, chớ (mạc , vật , bất yếu 不要, biệt).

– Tiện 便: Dễ dàng.

– Tiện lão 便老: Già dễ dàng, chóng già. Các sách khác chép là sử lão 使老 (để cho già). Hai chữ tiện 便 và sử 使 (để cho) gần giống nhau.

– Phong lưu lãng tử 風流浪子: Dân chơi, tài tử.

– Mạc : Đừng, chớ; từ Việt cổ gọi là mựa.

– Giáo : Để cho, khiến cho (sử 使, lịnh , nhượng ). ****chỗ này cụ nhầm, đọc Giao

NGHĨA LÝ:

Giai nhân nên tìm cách giữ gìn cho trẻ mãi; kẻ tài tử đừng để mình hết tiền.

26.

在家不會迎賓客;

出路方知少主人.

Tại gia bất hội nghinh tân khách;

Xuất lộ phương tri thiểu chủ nhân.

Ở nhà không biết tiếp khách; khi ra ngoài mới biết ít ai tiếp đón ta.

CHÚ:

- Bất hội 不會: Không biết cách thức.

– Nghinh : Tiếp đón.

– Tân khách 賓客: Khách khứa (tân và khách cùng nghĩa).

**** thật ra nghĩa có khác, nhưng chưa cần phải đi sâu.

– Xuất lộ 出路: Ra ngoài đường, ra khỏi nhà; dị bản: xuất môn 出門, xuất ngoại 出外.

NGHĨA LÝ:

Mình tiếp khách lạnh nhạt, thì khi mình làm khách của ai, họ cũng tiếp đãi mình lạnh nhạt.

 

27.

黃金無假;

阿魏無真.

Hoàng kim vô giả;

A ngụy vô chân.

Vàng ròng không giả; a ngụy không thật.

CHÚ:

- Hoàng kim 黃金: Vàng ròng.

– A ngụy (a ngùy) 阿魏: Một vị thuốc bắc, làm bằng một loại nhựa cây, dùng trừ tà, kỵ phong (danh pháp khoa học: Terula resin).

NGHĨA LÝ:

Vàng ròng quý, khó làm giả; a ngụy là thuốc quý, dễ làm giả.

28.

客來主不顧,

應恐是痴人.

Khách lai chủ bất cố,

Ưng khủng thị si nhân.

Khách đến chủ nhà không quan tâm,

Nên sợ rằng chủ nhân là tên ngốc.

CHÚ:

- Cố :

1/ Chiếu cố, quan tâm, đoái hoài, chăm sóc;

2/ Quay đầu nhìn lại; như: cố vấn 顧問 (người mà ta ngoảnh lại để hỏi ý kiến), tứ cố vô thân 四顧無親 (bơ vơ lẻ loi, nhìn bốn hướng không thấy người thân thích).

– Bất cố 不顧: Làm lơ, lạnh nhạt, không ngó ngàng.

– Ưng : Nên thế, cần phải (ưng tu 應須, ưng cai 應該, ưng đương 應當).

Chữ còn đọc là ứng (đáp ứng 答應, ứng phó 應付, tương ứng 相應, tùy cơ ứng biến 隨機應變).

– Khủng : Sợ (phạ , khủng phạ 恐怕, kinh khủng 驚恐, khủng cụ 恐懼).

– Si nhân 痴人: Kẻ ngu khờ (sọa nhân 傻人, sọa qua 傻瓜, sọa tử 傻子).

NGHĨA LÝ:

Khi khách đến thì chủ nhà nên lịch sự quan tâm. Nếu chủ nhà làm lơ khách, thì bị đánh giá là kém xã giao, bất lịch sự, thậm chí là ngu dại.

 

29.

貧居鬧市無人問;

富在深山有遠親.

Bần cư náo thị vô nhân vấn;

Phú tại thâm sơn hữu viễn thân.

Nghèo ở thị thành không ai hỏi; giàu chốn non sâu lắm kẻ thân.

CHÚ:

- Náo (): Ồn ào; như: nhiệt náo 熱鬧 (chen chúc rầm rĩ), náo thị 鬧市 (chợ búa ồn ào), huyên náo 喧鬧 (ồn ào), sảo náo 吵鬧 (nói rùm, om sòm).

Chữ náo gồm chữ thị (chợ) ở trong chữ đấu (đánh nhau), có lẽ trong chợ mua bán hay đấu võ mồm nên ồn ào chăng? Chữ náo cũng viết là , tức chữ thị 巿 trong chữ môn (cửa).

Bài Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ (1778-1858) viết: Thị tại môn tiền náo; nguyệt lai môn hạ nhàn.

巿在門前閙;

月來門下閒.

(Chợ trước cửa thì ồn ào; trăng đến cửa thì nhàn.)

Chữ thị 巿 trong chữ môn là chữ náo ; chữ nguyệt trong chữ môn là chữ nhàn .

– Vô nhân vấn 無人問: Không ai hỏi thăm; dị bản: vô nhân thức 無人識 (không ai biết).

– Thâm sơn 深山: Non sâu; như: thâm sơn cùng cốc 深山窮谷 (núi sâu hang thẳm, chốn hoang dã), sơn cùng thủy tận 山窮水盡.

– Hữu viễn thân 有遠親: Có người ở xa đến làm thân.

NGHĨA LÝ:

Thói đời vốn trọng giàu khinh nghèo (trọng phú khinh bần 重富輕貧).

30.

誰人背後無人;

哪個人前不說人.

Thùy nhân bối hậu vô nhân thuyết;

Na cá nhân tiền bất thuyết nhân.

Ai cũng bị nói sau lưng;

Có ai mà trước mặt người này lại không nói lén kẻ khác?

CHÚ:

- Thùy nhân 誰人: Ai, người nào (thùy , hà nhân 何人); ngã chi khổ tâm thùy nhân tri 我之苦心誰人知 (lòng ta đau khổ nào ai biết).

– Bối : Lưng; như: bối hậu 背後 (sau lưng), bối bao 背包 (ba lô), bối ảnh (bóng dáng sau lưng).

Dùng như động từ đọc là bội (quay lưng, làm trái), như: bội bạn 背叛 (làm phản), bội nghịch 背逆 (làm phản), bội phản 背反 (phản bội), bội ước 背約 (nuốt lời hứa).

Chữ bối (lưng) khác chữ bối (bọn, đám, lớp người), như: tiền bối 前輩 (lớp người trước, bậc trưởng thượng), đồng bối 同輩 (cùng trang lứa, cùng thế hệ), hậu bối 後輩 (lớp người sau, kẻ hậu sinh).

– Na cá 哪個: Kẻ nào, ai mà.

– Nhân tiền 人前: Trước mặt người ta.

– Chữ thuyết (nói) ở đây là nói lén, nói xấu, đàm tiếu, bình phẩm, khen chê.

NGHĨA LÝ:

Thói đời là thế; cho nên người xưa khuyên:

Tĩnh tọa thường tư kỷ quá;

Nhàn đàm bất luận nhân phi.

靜坐常思己過;

閒談不論人非.

(Khi ngồi yên hãy luôn nghĩ đến sai lầm của mình; lúc chuyện phiếm chớ bàn luận lầm lỗi kẻ khác.)

31.

有錢道真語;

無錢語不真.

Hữu tiền đạo chân ngữ;

Vô tiền ngứ bất chân.

Có tiền nói là đúng;

Không tiền nói là sai.

CHÚ:

- Đạo : 1/ Đạo lý, đạo đức; 2/ Nói.

– Chữ danh từ đọc là ngữ (lời nói, ngôn ngữ); động từ đọc là ngứ (nói).

Trong câu này đạo và ngứ cùng là động từ (nói).

NGHĨA LÝ:

Tâm lý số đông hay hùa theo kẻ giàu. Ca dao có câu:

Vai mang túi bạc kè kè Nói quấy nói quá, người nghe rần rần Trong lưng chẳng có một đồng Lời nói như rồng cũng chẳng ai nghe.

32.

不信但看筵中酒;

杯杯先敬有錢人.

Bất tín đãn khán diên trung tửu;

Bôi bôi tiên kính hữu tiền nhân.

Không tin nhưng anh hãy xem rượu trong buổi tiệc;

Ly nào cũng mời kẻ có tiền trước tiên.

CHÚ:

- Bất tín 不信: Không tin.

– Đãn : Nhưng mà.

– Diên : Chiếu tre, yến tiệc (trải chiếu ngồi nhậu).

– Kính :

1/ Tôn kính;

2/ Mời; kính tửu 敬酒, khuyến tửu 勸酒 (mời uống rượu).

NGHĨA LÝ:

Thói đời vốn trọng kẻ có tiền.

33.

鬧里有錢;

靜處安身.

Náo lý hữu tiền;

Tĩnh xứ an thân.

Chốn náo nhiệt có tiền;

Nơi thanh tĩnh yên thân.

CHÚ:

- Hữu tiền 有錢: Có tiền; dị bản: tránh tiền 掙錢 (kiếm tiền).

– Chữ tĩnh (yên tĩnh) trái với động (chuyển động); đừng lầm với tịnh (sạch sẽ), trái nghĩa với cấu (dơ bẩn).

NGHĨA LÝ:

Chỗ phồn hoa dễ kiếm tiền; nơi thanh tĩnh dễ yên thân.

 

34.

來如風雨;

去似微塵.

Lai như phong vũ;

Khứ tự vi trần.

Đến như mưa gió;

Đi như bụi nhỏ.

CHÚ:

- Tự : Tựa như, giống như.

– Vi : Nhỏ, tinh tế, nhẹ nhàng; như: tinh vi 精微 (nhỏ bé tinh tế), vi tiếu 微笑 (mỉm cười).

– Trần : Bụi; như: hồng trần 紅塵 (bụi hồng, cõi đời).

NGHĨA LÝ:

Ở đời khi sự cố gì phát sinh thì ào ào ầm ĩ nhưgió loạn mưa cuồng, nhưng rồi nó cũng qua đi êm thấm. Do đó, cứ bình tâm đối mặt giải quyết.

35.

長江後浪推前浪;

世上新人趕舊人.

Trường Giang hậu lãng thôi tiền lãng;

Thế thượng tân nhân cản cựu nhân.

Ở Trường Giang, sóng sau xô sóng trước;

Ở trên đời, thế hệ sau xua thế hệ trước.

CHÚ:

- Trường Giang 長江: Sông Dương Tử 揚子, sông rất lớn của Trung Quốc, dài 6300 km.

– Lãng : Sóng nhỏ (ba ).

– Đào : Sóng cả, sóng lớn.

– Hậu lãng 後浪: Sóng sau.

– Tiền lãng 前浪: Sóng trước.

– Thôi : Xô đẩy; cũng đọc suy, như: suy luận 推論.

– Tân nhân 新人: Lớp người mới, thế hệ sau.

– Cựu nhân 舊人: Lớp người cũ, thế hệ trước.

– Cản : Xua đuổi (toản ).

NGHĨA LÝ:

Theo quy luật tự nhiên, tre tàn măng mọc; cái mới thay cái cũ.

 

36.

近水樓臺先得月;

向陽花木早逢春.

Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt;

Hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân.

Lâu đài gần nước được trăng trước;

Hoa cỏ cây cối có nắng chiếu thì sớm gặp xuân.

CHÚ:

- Dương : Thái dương 太陽 (mặt trời).

– Hướng dương 向陽: Hướng về mặt trời, có nắng chiếu vào. Cây cối hoa cỏ có nắng chiếu thì tươi tốt nở hoa, tức sớm có mùaxuân. Câu này được cải biên từ hai câu thơ của Tô Lân 蘇麟 (969-1052), đời Bắc Tống:

Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt

Hướng dương hoa mộc dị vi xuân.

近水樓臺先得月

向陽花木易為春.

(Lâu đài gần nước được trăng trước

Hoa cỏ cây cối có nắng chiếu thì dễ là xuân.)

NGHĨA LÝ:

Người hay vật gặp hoàn cảnh thuận lợi thì dễ phát triển.

 

37.

古人不見今時月;

今月曾經照故人.

Cổ nhân bất kiến kim thời nguyệt;

Kim nguyệt tằng kinh chiếu cố nhân.

Người xưa không thấy trăng ngày nay;

Trăng ngày nay từng chiếu người xưa.

CHÚ:

- Kim thời nguyệt 今時月: Kim nguyệt 今月(trăng ngày nay).

- Tằng kinh 曾經: Đã từng.

Câu này cải biên câu thơ trong bài Bả Tửu Vấn Nguyệt 把酒問月 (Nâng Chén Rượu Hỏi Trăng) của Lý Bạch 李白 (701-762):

Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt

Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.

今人不見古時月

今月曾經照古人.

Người nay chẳng thấy trăng ngày xưa

Trăng ngày nay từng chiếu người xưa.

NGHĨA LÝ:

Kiếp người hữu hạn so với nhật nguyệt (hay vũ trụ) trường tồn.

 

38.

先到為君;

後到為臣.

Tiên đáo vi quân; hậu đáo vi thần.

Đến trước làm vua; đến sau làm bề tôi.

CHÚ:

- Quân :

1/ Vua, như: quân chủ 君主 (vua), minh quân 明君 (vua sáng suốt), hôn quân 昏君 (vua ngu tối), quân thần 君臣 (vua và bầy tôi);

2/ Ông, anh, ngài, ngươi, mi (đại từ nhân xưng ngôi hai).

– Thần : 1/ Bầy tôi nói chung (bao gồm cả quan và dân) đối với vua;

2/ Kẻ tôi tớ, nô lệ; như thần bộc 臣僕 (tôi tớ); thời cổ đại, thần là nô lệ nam, thiếp là nô lệ nữ;

3/ Tiếng tự xưng khiêm hạ “tôi” (đại từ nhân xưng ngôi nhất).

– Chữ bộc (tôi tớ) như công bộc 公僕 (công chức, đầy tớ nhân dân), nô bộc 奴僕 (đầy tớ), gia bộc 家僕 (người giúp việc trong nhà); bộc cũng là tiếng tự xưng của người nam trong tiếng Nhật ( đọc là boku). Trong tiếng Việt, “tôi” cũng hàm ý khiêm hạ là tôi tớ.

NGHĨA LÝ:

Có những việc hễ làm sớm, làm trước thì được lợi thế hơn. Người Việt bảo: Trâu chậm uống nước đục.

39.

莫道君行早;

更有早行人.

Mạc đạo quân hành tảo;

Cánh hữu tảo hành nhân.

Chớ nói anh đi sớm; còn có người đi sớm hơn.

CHÚ:

- Cánh :

1/ Càng, hơn thêm, lại nữa;

2/ Chữ đọc là canh, như: canh cải 更改 (sửa đổi), canh tân 更新 (đổi mới); canh (một đêm có năm canh).

– Chữ hành ở đây có nghĩa như: đi bộ (bộ hành 步行), hành động 行動, ra đi (xuất hành 出行).

NGHĨA LÝ:

Chớ tự kiêu mà cho mình lợi thế hơn kẻ khác.

Mình sớm, có người còn sớm hơn. Mình giỏi, có người còn giỏi hơn.

 

40.

莫信直中直;

須防仁不仁.

Mạc tín trực trung trực;

Tu phòng nhân bất nhân.

Chớ tin người trực là trung trực; nên phòng người nhân là bất nhân.

CHÚ:

- Trực : Ngay, thẳng thắn; bộc trực 暴直 (nói thẳng).

– Phòng : Phòng vệ 防衛, phòng ngừa, cảnh giác 警覺, đề phòng 提防.

- Nhân : Lòng thương người (nhân ái 仁愛).

NGHĨA LÝ:

Ở đời nhiều người tự cho họ trung thực, nhân ái, nhưng thật ra là kẻ giả nhân giả nghĩa, lọc lừa, gian xảo.

Bởi vậy, chớ vội tin ai; thời gian sẽ chứng minh ai thật ai giả.

41.

山中有直樹;

世上無直人.

Sơn trung hữu trực thụ;

Thế thượng vô trực nhân.

Trong núi có cây thẳng; trên đời chẳng người ngay.

CHÚ:

- Sơn trung 山中: Trong vùng núi.

- Thế thượng 世上: Trên đời.

NGHĨA LÝ:

Câu này dùng cặp hữu-vô (có-không) thì dữ dội quá, cực đoan quá, bi quan quá. Lẽ ra dùng cặp đa-thiểu 多少(nhiều-ít) thì hợp lý hơn, vì vẫn có ít người ngay thẳng chân thực, có thể ta chưa may mắn gặp thôi.

Lạc quan hơn thì nói:

Sơn trung đa trực thụ; thế thượng thiểu trực nhân.

山中多直樹;

世上少直人.

(Trong núi nhiều cây thẳng; trên đời ít người ngay.)

 

42.

自恨枝無葉;

莫怨太陽偏.

Tự hận chi vô diệp;

Mạc oán thái dương thiên.

Tự hận cành không lá; chớ oán nắng chiếu nghiêng.

CHÚ:

- Hận : Oán giận, như: di hận 遺恨 (để lại mối giận), ẩm hận 飲恨 (nuốt hận).

- Oán : Thù oán, hờn trách; như: oán tình 怨情 (trách giận người tình).

- Thái dương 太陽: Mặt trời (nhật ); mặt trăng là thái âm 太陰 (nguyệt ). Ở đây thái dương hiểu là ánh nắng.

– Thiên : Nghiêng lệch, thiên vị.

Dị bản: thái dương khuynh 太陽傾. Khuynh : Nghiêng.

NGHĨA LÝ:

Có người khi thất bại thay vì nhìn nhận là lỗi ở mình, lại đổ lỗi cho người khác hoặc đổ thừa do hoàn cảnh.

Tục ngữ có câu: Múa vụng chê đất lệch.

43.

大家都是命,

半點不由人.

Đại gia đô thị mệnh,

Bán điểm bất do nhân.

Mọi người đều là [do] số mạng, không chút gì do người.

CHÚ:

- Đại gia 大家: Mọi người.

- Đô thị 都是: Đều là (giai thị 皆是).

- Mệnh :

1/ Mệnh lệnh 命令;

2/ Số mệnh 數命, Mệnh vận 命運.

- Bán điểm 半點: Nửa chấm, ý nói chút xíu.

Sách Cảnh Thế Thông Ngôn 警世通言 của Phùng Mộng Long 馮夢龍 (1574-1646) đời Minh viết:

Vạn ban giai thị mệnh,

Bán điểm bất do nhân.

萬般皆是命,

半點不由人.

(Mọi thứ đều là số mạng, chút xíu cũng chẳng do người.)

NGHĨA LÝ:

Câu này bi quan.

Theo thuyết định mệnh, mọi thứ đều được lập trình sẵn rồi, ý chí con người vô ích.

Cái quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

(Nguyễn Gia Thiều, Cung Oán Ngâm Khúc).

Thậm chí, miếng ăn miếng uống cũng đều được định sẵn:

Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định.

一飲一啄皆由前定.

Thực tế, mọi nỗ lực và ý chí của con người cũng có kết quả nhất định:

Xưa nay nhân định thắng Thiên cũng nhiều.

(Kiều, câu 420)

44.

一年之計在於春;

一日之計在於晨.

Nhất niên chi kế tại ư xuân;

Nhất nhật chi kế tại ư thần.

Kế sách cho một năm lập ở mùa xuân; kế sách cho một ngày lập ở sáng sớm.

CHÚ:

- Kế : Tính toán, kế hoạch, kế sách, mưu kế.

– Thần : Sáng sớm (tảo thần 早晨). Dị bản: Nhất nhật chi kế tại ư Dần. 一日之計在於寅.

– Dần : Giờ Dần (từ ba giờ sáng đến năm giờ sáng).

Câu này lấy từ sách Toản Yếu 纂要 của Tiêu Dịch 蕭繹 (508-555) tức vua Nguyên Đế 元帝 đời Lương .

NGHĨA LÝ:

Hãy quý trọng thời gian; lập kế hoạch làm việc và học tập ở đầu mỗi giai đoạn.

45.

一家之計在於和;

一生之計在於勤.

Nhất gia chi kế tại ư hòa;

Nhất sinh chi kế tại ư cần.

Kế sách cho một nhà là ở hòa mục; kế sách cho một đời là ở siêng năng.

CHÚ:

- Hòa : Hòa ái, hòa mục, hòa thuận. Gia hòa vạn sự hưng. 家和萬事興. (Gia đình hòa thuận thì mọi việc hưng thịnh.)

- Cần : Chịu khó, siêng năng, cần cù 勤劬.

NGHĨA LÝ:

Dù học tập hay làm lụng mưu sinh, đều phải siêng năng mới lập được sự nghiệp.

Về mưu sinh, có câu:

Đại phú do Thiên; tiểu phú do cần.

大富由天; 小富由勤.

(Giàu lớn là do Trời định; giàu nhỏ là do cần cù.)

Về học vấn, Hàn Dũ 韓愈 (768-824) nói:

Thư sơn hữu lộ cần vi kính;

Học hải vô nhai khổ tác chu.

書山有路勤為徑;

學海無涯苦作舟.

Núi sách có đường đi, lấy cần cù làm lối tắt;

Biển học không bờ, lấy gian khổ làm thuyền qua.

46.

責人之心責己;

恕己之心恕人.

Trách nhân chi tâm trách kỷ;

Thứ kỷ chi tâm thứ nhân.

Lấy cái lòng trách người mà trách mình; lấy cái lòng tha thứ mình mà tha thứ người.

CHÚ:

- Trách : 1/ Chê trách; 2/ Trách nhiệm.

– Trách nhân chi tâm 責人之心: Lòng chê trách người khác.

– Thứ : Khoan dung, tha thứ.

– Thứ kỷ chi tâm 恕己之心: Lòng tha thứ mình.

NGHĨA LÝ:

Thói đời dễ bỏ qua lầm lỗi của chính mình, mà lại hay chê trách lỗi của người khác. Câu này khuyên hãy làm ngược lại: Nên tự trách mình và bao dung kẻ khác.

47.

守口如瓶;

防意如城.

Thủ khẩu như bình;

Phòng ý như thành.

Giữ miệng như giữ bình; giữ ý nghĩ như giữ thành trì.

CHÚ:

- Thủ : Giữ gìn, giữ lấy. Chữ phòng ở đây đi với chữ thủ ở trước, là bảo vệ, phòng thủ.

NGHĨA LÝ:

Ta nên thận trọng lời nói và ý nghĩ. Lỡ lời

giống như sảy tay làm rơi vỡ cái bình. Ý nghĩ của ta nên gìn giữ kín đáo, không thể bạ ai cũng nói cho biết. Nếu biết được ý nghĩ của mình, kẻ xấu có thể hại mình. Phòng ý giống như phòng thủ thành trì, chớ để quân địch xâm chiếm.

 

48.

寧可人負我,

切莫我負人.

Ninh khả nhân phụ ngã,

Thiết mạc ngã phụ nhân.

Thà rằng người phụ ta, chứ ta tuyệt đối không phụ người.

CHÚ:

- Ninh : 1/ An ninh 安寧; 2/ Thà rằng, như: ninh tử bất khuất 寧死不屈 (thà chết chứ không chịu khuất phục).

– Ninh khả 寧可: Thà có thể.

– Phụ : 1/ Gánh vác; 2/ Phụ bạc, phụ lòng (cô phụ 孤負 / 辜負).

– Thiết mạc 切莫: Tuyệt đối không, quyết không (thiên vạn bất yếu 千万不要).

NGHĨA LÝ:

Người chính nhân quân tử thà bị người phụ, chứ không hề phụ ai. Ngược lại, kẻ tiểu nhân gian hùng thì:

Ninh ngã phụ nhân, vô nhân phụ ngã.

寧我負人, 毋人負我.

(Thà ta phụ người, chứ không để người phụ ta.) Tương truyền Tào Tháo 曹操 (155-220) nói câu này.

49.

再三須重事,

第一莫欺心.

Tái tam tu trọng sự,

Đệ nhất mạc khi tâm.

Làm việc phải thận trọng cân nhắc đôi lần, nhưng trước tiên chớ làm việc trái lương tâm.

CHÚ:

- Tái tam 再三: Đôi ba lần, nhiều lần (lũ thứ 屢次).

– Trọng sự 重事: Thận trọng hành sự.

– Đệ nhất 第一: Thứnhất, trước hết.

– Mạc : Đừng, chớ (từ Việt cổ gọi trại là

mựa).

– Khi : Lừa dối. Khi tâm 欺心: Dối lòng, làm trái lương tâm.

Dị bản:

Tái tam tu thận ý. 再三須慎意. (Phải cẩn

thận, suy đi tính lại.)

NGHĨA LÝ:

Làm việc gì cũng phải cân nhắc, suy tính thấu đáo, và quan trọng nhất là chớ làm gì trái lương tâm.

50.

虎生猶可近;

人熟不堪親.

Hổ sinh do khả cận;

Nhân thục bất kham thân.

Cọp sống còn có thể gần; người quen biết lại không thể thân cận.

CHÚ:

- Do : 1/ Giống như, như là; 2/ Lại còn, mà còn.

– Thục : 1/ Nấu chín; 2/ Quen biết (thục tất 熟悉).

– Kham : Chịu đựng.

– Bất kham 不堪: Không thể (bất khả 不可, bất năng 不能).

Bình thường nói sinh hổ 生虎 và thục nhân 熟人; ở đây dùng nhấn mạnh: hổ sinh 虎生 (cọp còn sống) và nhân thục 人熟 (người quen biết).

NGHĨA LÝ:

Gặp cọp còn sống thì ai cũng kinh hồn bạt vía, nhưng cũng có thể gần được. Câu này cường điệu như vậy để đối lập ý sau: Tuy nhiên, người quen biết lại không thể thân cận được. Vì sao thế? Chỗ quen biết nên quá hiểu tính cách, ưu khuyết của nhau. Lúc giao hảo êm đẹp thì không sao, nhưng khi có mâu thuẫn, xung đột thì thật nguy hại. Do đó, dù quen biết nhưng hãy giữ khoảng cách, không nên thân cận suồng sã, để tránh việc đáng tiếc về sau.

51.

說是非者,

便是是非人.

Lai thuyết thị phi giả,

Tiện thị thị phi nhân.

Kẻ đến nói chuyện thị phi chính là kẻ gây chuyện thị phi.

CHÚ:

- Thị phi 是非: Đúng sai, phải trái, bình luận khen chê.

– Giả : Kẻ mà, người mà. Chữ giả tạo một danh ngữ (noun phrase) như: tự tri giả 自知者 (kẻ tự biết mình); tri nhân giả trí; tự tri giả minh 知人者智; 自知者明 (kẻ biết

người khác là trí tuệ; kẻ tự biết mình là sáng suốt);

- lai thuyết thị phi giả 說是非者 (kẻ đến nói chuyện thị phi).

– Tiện thị 便是: Chính là, tức là (tựu thị 就是, tức thị 即是).

– Thị phi nhân 是非人: Kẻ gây thị phi, kẻ nhiều chuyện.

52.

遠水難救近火;

遠親不如近鄰.

Viễn thủy nan cứu cận hỏa;

Viễn thân bất như cận lân.

Nước xa khó chữa cháy gần; người thân ở xa chẳng bằng láng giềng gần.

CHÚ:

- Viễn thủy 遠水: Nước ở xa.

- Cứu hỏa 救火: Chữa cháy.

- Cứu cận hỏa 救近火: Chữa cháy ở gần.

- Viễn thân 遠親: Người thân thích ở xa, bà con nơi xa.

– Lân :

1/ Hàng xóm, láng giềng;

2/ Gần bên; như: lân cận 鄰近 (kế bên), lân bang 鄰邦, lân quốc 鄰國 (nước láng giềng), lân cư 鄰居 (người hàng xóm), lân thôn 鄰村 (làng bên).

Chú ý: lân cận 鄰近 (kế bên), cận lân 近鄰 (hàng xóm ở gần).

NGHĨA LÝ:

Cháy gần thì lấy nước ở gần mà chữa cho kịp, chứ lấy nước ở xa đến chữa thì quá trễ. Khi ta có việc nguy cấp, hàng xóm giúp ta nhiều hơn bà con ở xa. Tục ngữ nói: Bán anh em xa, mua láng giềng gần.

53.

有茶有酒多兄弟;

急難何曾見一人.

Hữu trà hữu tửu đa huynh đệ;

Cấp nạn hà tằng kiến nhất nhân.

Có trà có rượu thì lắm anh em; lúc nguy cấp chưa từng thấy một ai.

CHÚ:

- Huynh đệ 兄弟: Anh em, ở đây hiểu là bạn bè.

– Cấp : Gấp, cần kíp; như: khẩn cấp 緊急, cấp cứu 急救, nguy cấp危急, cấp bách 急迫, cấp tốc 急速.

- Hà tằng 何曾: Chưa hề, chưa từng (bất tằng 不曾, vị tằng 未曾).

– Chữ :

1/ Đọc là nan (khó khăn, nguy nan 危難);

2/ Đọc là nạn (tai nạn 災難, nạn nhân 難人).

* Vế trước có dị bản:

Hữu nhục hữu tửu đa huynh đệ.

有肉有酒多兄弟.

(Có thịt có rượu thì lắm anh em.)

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) viết:

Còn bạc, còn vàng, còn đệ tử

Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.

(Dị bản: Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết cơm, hết gạo, hết ông tôi.)

NGHĨA LÝ:

Thói đời, khi ta có tiền và thường tiệc tùng ăn nhậu thì đông người kết bạn, xưng hô thân thiết anh em; nhưng khi ta gặp tai nạn nguy cấp thì chẳng thấy một ai giúp

54.

人情似紙張張薄;

世事如棋局局新.

Nhân tình tự chỉ trương trương bạc;

Thế sự như kỳ cục cục tân.

Tình người như giấy từng tờ mỏng; sự đời như cờ từng cuộc mới.

CHÚ:

- Nhân tình 人情: Tình người. Tiếng Việt nói nhân tình(bồ bịch, bạn tình) thì chữ Hán là tình nhân 情人, tình lữ 情侶.

- Tự : Tợ, tựa, như.

- Chỉ : Giấy. - Trương : Tờ giấy; hiệt : trang giấy.

- Trương trương : Từng tờ, tờ tờ.

- Bạc : Mỏng; hậu: dày.

- Kỳ : Cờ tướng; như: kỳ cục 棋局 (cuộc cờ, ván cờ), kỳ bàn 棋盤 (bàn cờ), kỳ thủ 棋手 (người đánh cờ).

- Cục : Cuộc; cục diện.

- Cục cục 局局: Từng ván cờ.

- Tân : Mới (ván cờ xong thì gầy ván cờ mới).

NGHĨA LÝ:

Tình cảm con người đổi thay như tờ giấy mỏng, từng tờ lật qua lật lại. Sự việc ở đời biến đổi như những ván cờ; hết ván này bày ván khác.

55.

山中也有千年樹;

世上難逢百歲人.

Sơn trung dã hữu thiên niên thụ;

Thế thượng nan phùng bách tuế nhân.

Trong núi cũng có cây sống ngàn năm; trên đời khó gặp người trăm tuổi.

CHÚ:

- Dã : Cũng.

- Niên và tuế cùng nghĩa là năm; tuế còn nghĩa là tuổi (niên tuế , niên linh 年齡, niên kỷ 年紀). Thời nay có một số người sống hơn trăm tuổi, nhưng thời xưa sống đến bảy mươi tuổi là hiếm. Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) nói: Nhân sinh thất thập cổ lai hy. 人生七十古來稀. (Đời người sống tới bảy mươi tuổi xưa nay hiếm.)

NGHĨA LÝ:

Đời người hữu hạn so với thiên nhiên.

56.

力微休負重,

言輕莫勸人.

Lực vi hưu phụ trọng;

Ngôn khinh mạc khuyến nhân.

Sức mọn chớ vác nặng; lời nói không có sức nặng, chớ khuyên ai.

CHÚ:

- Vi : Rất nhỏ.

- Hưu : Đừng, chớ (mạc , vật , bất yếu 不要, biệt ).

- Phụ : Vác, cõng.

- Trọng : Nặng.

- Ngôn : Nói, lời nói.

- Khinh : Nhẹ.

NGHĨA LÝ:

Sức bé mọn thì chớ khuân vác nặng; tài non kém thì đừng nhận làm việc lớn. Lời nói [của kẻ hèn kém] không có sức mạnh thì đừng khuyên bảo ai, vô ích.

57.

無錢休入眾;

遭難莫尋親.

Vô tiền hưu nhập chúng;

Tao nạn mạc tầm thân.

Không tiền thì đừng nhập bọn đám đông; gặp nạn thì chớ đến tìm người thân.

CHÚ:

- Nhập chúng 入眾: Nhập bọn với nhóm đông người.

- Tao : 1/ Gặp phải; tao nạn 遭難 (gặp nạn); 2/ Gặp nhau, gặp gỡ: tao phùng 遭逢, tao ngộ 遭遇.

- Tầm : Tìm; trảo tầm 找尋 (tìm kiếm).

NGHĨA LÝ:

Thói đời hay lấy tiền làm thước đo con người.

Kẻ nghèo không tiền hãy nên tự trọng; nếu nhập bọn với đám giàu có thừa tiền, dễ bị khinh thường, mang nhục.

Vế sau có nhận xét bi quan về tình người: Nếu gặp nạn thì chớ tìm kẻ thân thiết nhờ cậy, vô ích. Thực tế, người dưng còn tử tế giúp đỡ mình còn hơn ruột thịt. Tuy nhiên, cũng tùy người, tùy hoàn cảnh; không thể cực đoan, quơ đũa cả nắm

58.

平生莫作皺眉事,

世上應無切齒人.

Bình sinh mạc tác trứu mi sự,

Thế thượng ưng vô thiết xỉ nhân.

Trọn đời đừng làm gì phụ lòng ai thì trên đời không có người nghiến răng đau khổ.

CHÚ:

- Bình sinh 平生: 1/ Thường ngày, bình thường (bình thời 平時); 2/ Trọn đời (chung thân 終身, nhất sinh 一生).

- Trứu : Cau, nhăn, nhíu.

- Mi : Chân mày, lông mày.

- Trứu mi 皺眉: Cau mày.

– Trứu mi sự 皺眉事: Việc phải cau mày, việc phụ lòng ai.

– Thiết : Cắt.

– Xỉ : Răng (nha ).

– Thiết xỉ 切齒: Nghiến răng (giảo khẩn nha xỉ 咬緊牙齒), diễn tả đau đớn uất hận.

– Thiết xỉ nhân 切齒人: Người nghiến răng đau khổ.

Câu này lấy từ Cảnh Thế Thông Ngôn 警世通言 của Phùng Mộng Long 馮夢龍 (1574-1646) đời Minh.

NGHĨA LÝ:

Đừng làm việc trái lương tâm kẻo gây khổ cho người khác.

59.

士者國之寶,

儒為席上珍.

Sĩ giả quốc chi bảo;

Nho vi tịch thượng trân.

Kẻ sĩ là vật báu của quốc gia; nhà Nho là món quý trên bàn tiệc.

CHÚ:

- Sĩ giả 士者: Kẻ sĩ, người trí thức.

- Tịch : Tiệc, bàn tiệc, mâm cỗ; như: yến tịch 宴席 (yến tiệc), tửu tịch 酒席 (tiệc rượu), diên tịch 筵席 (yến tiệc).

- Trân : Quý báu, quý trọng (trân quý 珍貴).

- Tịch thượng trân 席上珍, tịch trân 席珍: Món ăn quý trên bàn tiệc.

NGHĨA LÝ:

Trí thức là vốn quý quốc gia, đáng kính trọng.

60.

若要斷酒法,

醒眼看醉人.

Nhược yếu đoạn tửu pháp,

Tỉnh nhãn khán túy nhân.

Muốn có cách cai rượu,

Khi tỉnh táo hãy nhìn kẻ say.

CHÚ:

- Nhược : Nếu (như quả 如果, giả như 假如, nhược quả 若果, thảng nhược 倘若, giả nhược 假若).

– Yếu (yêu) : Muốn.

– Đoạn : Cắt đứt.

– Đoạn tửu pháp 斷酒法: Phương pháp cai rượu.

– Tỉnh : 1/ Tỉnh táo; tỉnh ngộ 醒悟; trái với mê (u mê, mê lầm); 2/ Tỉnh rượu; trái với túy (say).

– Tỉnh nhãn 醒眼: Con mắt lúc tỉnh táo.

– Túy nhân 醉人: Kẻ say rượu.

NGHĨA LÝ:

Muốn có cách cai rượu thì lấy mắt tỉnh táo mà nhìn kẻ say. Có kẻ say quá thì lăn ra ngủ, nhưng cũng có kẻ làm việc xằng bậy, hoặc say quá mà mất mạng. Người khôn ngoan nhìn đó làm gương. Đó là cách cai rượu. Trong giao tiếp cũng có lúc cần xã giao thù tạc, có thể uống một chút rượu để giữ lễ. Đừng vui quá đến mức “không say, không về”, vì người xưa khuyên: Tửu mạc quá lượng, cẩn phòng lạc cực sinh bi. 酒莫過量, 謹防樂極生悲. (Rượu thì chớ uống quá mức, cẩn thận đề phòng vui quá sẽ buồn nhiều.)

61.

求人須求大丈夫;

濟人須濟急時無.

Cầu nhân tu cầu đại trượng phu;

Tế nhân tu tế cấp thời vô.

Cầu người thì nên tìm người đàng hoàng; giúp người thì nên giúp khi họ nguy cấp.

CHÚ:

- Cầu : Mong cầu, cầu xin.

– Tu : Phải, nên (tất tu 必須, ưng đương 應當); từ Việt cổ gọi là tua.

– Đại trượng phu 大丈夫: Người chính nhân quân tử; chỗ này có dị bản là anh hùng hán 英雄漢 (bậc hảo hán anh hùng).

– Tế : Giúp; như: cứu tế 救濟 (cứu giúp), chẩn tế 賑濟 (cứu giúp), phổ tế 普濟 (trợ giúp rộng khắp), tế bần 濟貧 (giúp người nghèo), kinh tế 經濟 (economics, viết tắt cụm từ kinh bang tế thế 經邦濟世: Trị nước giúp đời).

– Cấp : Gấp, cần kíp.

– Cấp thời vô 急時無: Trong khi nguy cấp không có gì cả.

62.

渴時一滴如甘露;

醉後添杯不如無.

Khát thời nhất trích như cam lộ;

Túy hậu thiêm bôi bất như vô.

Khi khát một giọt như nước cam lồ; say rồi thêm chén rượu chẳng bằng không.

CHÚ:

- Khát : Khát nước; như: giải khát (uống để hết khát), cơ khát (đói khát).

– Trích : Giọt (nước, chất lỏng); như: thủy trích 水滴 (giọt nước), vũ trích 雨滴 (giọt mưa), hãn trích 汗滴 (giọt mồ hôi).

– Cam lộ 甘露: Cam lồ, nước sương ngọt, ví như nước thánh chữa đau khổ thế gian.

– Thiêm: Thêm; như: họa xà thiêm túc 畫蛇添足 (vẽ rắn thêm chân).

NGHĨA LÝ:

Lúc nguy gấp, được giúp một chút xíu cũng rất quý (miếng khi đói bằng gói khi no). Say rượu rồi, có uống thêm nữa cũng không cảm giác gì, rượu như nước lã thôi, chẳng bằng đừng uống thêm.

63.

久住令人賤;

頻來親也疏.

Cửu trú lệnh nhân tiện; tần lai thân dã sơ.

Ở đậu lâu khiến mình hèn; đến hoài thì thân thiết cũng ra người dưng.

CHÚ:

-Cửu trú 久住: Ăn nhờ ở đậu lâu ngày.

– Lệnh (lịnh) : Khiến cho (sử 使, giao , nhượng ).

– Tiện : Hèn kém (hạ tiện 下賤), trái nghĩa với quý (tôn quý 尊貴); quý tiện 貴賤 (sang hèn).

– Tần: Lặp đi lặp lại hoài; như: tần tần 頻頻 (luôn luôn), tần suất 頻率 (tần số: frequency), cao tần高頻 (tần số cao: high frequency).

– Sơ : Chưa quen, không thân thiết, người dưng.

– Vế sau có dị bản: Bần lai thân dã sơ. 貧來親也疏. (Nghèo đến nhà ai, dù thân thích, cũng bị xem như người dưng.) Bần và tần cùng vần Hán Việt và cùng âm phổ thông [pín] nên dễ chép lầm. Xét cấu trúc câu thì cửu trú đối với tần lai hợp lý hơn.

NGHĨA LÝ:

Ở nhà ai lâu (ở nhờ, tá túc) khiến mình trở nên hèn. Dù thân nhưng ta cứ ghé nhà ai hoài thì cũng hết quý, lờn mặt, hết thân

64.

酒中不語真君子;

財上分明大丈夫.

Tửu trung bất ngứ chân quân tử;

Tài thượng phân minh đại trượng phu.

Uống rượu không nói là quân tử đích thực; tiền bạc phân minh là bậc đại trượng phu.

CHÚ:

- Chữ : 1/ Đọc ngữ (lời nói); 2/ Đọc ngứ (nói).

– Tửu trung bất ngứ 酒中不語: Không nói khi uống rượu.

– Tài thượng phân minh 財上分明: Rõ ràng về tiền bạc.

– Quân tử 君子, đại trượng phu 大丈夫: Người chính trực, đàng hoàng.

NGHĨA LÝ:

Thói thường uống rượu thì ham nói, ba hoa; rượu vào lời ra. Mà nói nhiều thì lỗi nhiều (đa ngôn đa quá 多言多過). Ít nói thì bị xem là thâm hiểm (thiểu ngôn quả

ngữ tâm cơ thâm 少言寡語心機深).

Ở đây khuyên ta uống rượu đừng nói gì. Như vậy cũng cực đoan. Thận ngôn 慎言(thận trọng lời nói) là cần thiết, nhưng cũng nên linh động tùy thời, tùy người.

Đàn ông có ba thứ cần lưu tâm cảnh giác: tiền, rượu, gái.

Tiền bạc phải rõ ràng, ngay cả đối với người thân kẻo sứt mẻ tình cảm.

Về rượu thì sách này đã nói nhiều.

Còn về gái thì hầu như ai cũng biết câu: Anh hùng bất quá mỹ nhân quan. 英雄不過美人關. (Anh hùng không thoát khỏi cửa ải người đẹp.)

65.

出家如初,

成佛有餘.

Xuất gia như sơ,

Thành Phật hữu dư.

Lìa nhà đi tu trước sau như một,

Dư sức thành Phật.

CHÚ:

- Xuất gia 出家: Ly gia, rời nhà đi tu.

- Như sơ 如初: Như thuở ban đầu mới phát tâm tu (bồ đề tâm).

- Hữu dư 有餘: Có thừa, có dư.

Câu này tương tự: Bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung. 不忘初心, 方得始終. (Không quên tâm nguyện khởi phát lúc ban đầu thì mới thành tựu trọn vẹn được việc làm.)

NGHĨA LÝ:

Ở đây nhấn mạnh sự kiên trì, trước sau như một. Ban đầu hạ quyết tâm, hăm hở; nhưng tu hành là việc lâu dài, lần hồi dễ sinh biếng nhác. Cho nên tu hành cần kiên trì, tâm bất chuyển, lâu ngày mới thành chánh quả. Tu hành lại cẩn bốn điều kiện này: pháp (chánh pháp), tài (tài chánh, tiền bạc), lữ (bạn tu), địa (môi trường tu, chùa thất). Đi tu có bốn trở ngại: Gặp thầy rởm dạy tà pháp; nghèo đói không tu nổi; tu cô đơn, không ai động viên, đồng hành; môi trường bất lợi, chùa thất lộn xộn không có bậc chân tu). Do đó, kiên tâm trì chí vẫn chưa đủ.

66.

積金千兩不如明解經書.

Tích kim thiên lượng bất như minh giải kinh thư.

Cất chứa ngàn lượng vàng chẳng bằng hiểu rõ kinh sách.

CHÚ:

- Tích : Tích trữ, cất chứa.

- Chữ :

1/ Đọc lưỡng (hai, đôi);

2/ Đọc lượng (lạng, tám lạng là nửa cân).

- Bất như 不如: Chẳng bằng.

- Giải :

1/ Giải nghĩa, giải thích;

2/ Hiểu (liễu giải 了解).

- Minh giải : Hiểu rõ.

67.

養子不教如養驢,

養女不教如養豬.

Dưỡng tử bất giáo như dưỡng lư;

Dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư.

Nuôi con trai mà không dạy, giống như nuôi lừa; nuôi con gái mà chẳng dạy, giống như nuôi heo.

CHÚ:

- Lư : 1/ Con lừa; 2/ Ngu xuẩn.

- Trư : Heo, lợn (thỉ , đồn , trệ ).

NGHĨA LÝ:

Nuôi con phải dạy chúng làm người. Nếu cha mẹ chỉ biết nuôi thân xác con mà không dạy bảo chúng, thì cũng giống như nuôi lừa nuôi heo, thứ gia súc thường bị xem là ngu xuẩn.

68.

有田不耕倉廩;

有書不讀子孫愚.

Hữu điền bất canh thương lẫm hư;

Hữu thư bất độc tử tôn ngu.

Có ruộng mà không cày, kho trống rỗng; có sách không đọc, con cháu ngu.

CHÚ:

- Canh : Cày cấy; như: canh tác 耕作 (cày), canh điền 耕田 (cày ruộng), canh chức 耕織 (cày ruộng và dệt vải), canh độc 耕讀 (cày ruộng và đọc sách), canh mục 耕牧 (cày ruộng và chăn nuôi).

– Thương (đồng nghĩa lẫm ): Kho, vựa lương thực.

– Hư : Trống rỗng, không có thực; trái với thực (đầy, có thực).

– Độc : Đọc; độc giả 者讀 (người đọc).

– Ngu : Ngu (si , bản , ngu bản 愚笨, xuẩn, ngu xuẩn 愚蠢, sọa). Kẻ ngu: ngu nhân 愚人, si nhân 痴人, sọa nhân 傻人, sọa qua 傻瓜, sọa tử 傻子.

Nhà có truyền thống làm ruộng và đọc sách gọi là canh độc truyền gia 耕讀傳家.

69.

倉廩虛兮歲月乏,

子孫愚兮禮義疏.

Thương lẫm hư hề tuế nguyệt phạp;

Tử tôn ngu hề lễ nghĩa sơ.

Kho vựa trống, thì suốt năm thiếu ăn; con cháu ngu thì chẳng biết lễ nghĩa.

CHÚ:

- Hề : Tiếng đệm.

– Tuế nguyệt 歲月: Năm và tháng, dịch thoát là trọn năm.

– Phạp : 1/ Thiếu hụt, thiếu ăn (khuyết phạp 缺乏); 2/ Nghèo đói túng thiếu (bần phạp 貧乏).

– Sơ : 1/ Không quen (trái với thân ); 2/ Sơ sài, sơ suất.

70.

同君一夜話,

勝讀十年書.

Đồng quân nhất dạ thoại,

Thắng độc thập niên thư.

Cùng ngài trò chuyện một đêm, còn hơn mười năm đọc sách.

CHÚ:

- Quân : 1/ Vua; 2/ Chỉ người đối diện (ngài, anh, ông, mi, ngươi..); số nhiều là chư quân 諸君 (các anh, các ông, các vị…).

– Thoại : Nói chuyện (thuyết thoại 說話).

– Thắng :

1/ Thắng (trái với bại ); như: thắng lợi 勝利, chiến thắng 戰勝, thắng phụ 勝負 (thắng thua);

2/ Hơn, trội hơn;

3/ Đẹp; như: thắng cảnh 勝景 (cảnh đẹp), danh thắng 名勝(danh lam thắng cảnh 名藍勝景: chùa nổi tiếng và cảnh đẹp).

NGHĨA LÝ:

Khen ngợi trí tuệ uyên thâm của người trò

chuyện với ta.

71.

人不通古今,

馬牛如襟裾.

Nhân bất thông cổ kim,

Mã ngưu như khâm cư.

Người không thông hiểu việc xưa nay, cũng như trâu ngựa mặc áo quần.

CHÚ:

- Khâm và cư cùng nghĩa là vạt áo, như: tiền khâm 前襟 (vạt trước), hậu khâm 後襟 (vạt sau). Khâm cư 襟裾 hiểu rộng là y phục, áo quần.

NGHĨA LÝ:

Đề cao kiến thức, nhưng ví kẻ thiếu kiến thức như trâu ngựa thì nặng quá. Người Việt hay ví là “giá áo túi cơm” (thân thể như cái giá mắc quần áo, như cái túi chứa cơm). Ngoài ra, đòi hỏi một người bình thường phải thông kim bác cổ, uyên bác như một học giả, thì cũng quá đáng.

72.

茫茫四海人無數;

哪個男兒是丈夫?

Mang mang tứ hải nhân vô số, nả cá nam nhi thị trượng phu?

Thiên hạ mênh mông, con người vô số; đàn ông nào mới đáng mặt trượng phu?

CHÚ:

- Mang mang 茫茫: Mênh mông, bao la.

- Tứ hải 四海: Bốn biển, thiên hạ, thế giới, toàn quốc.

- Nả cá nam nhi? 哪個男兒?: Đàn ông nào? Ai?

– Trượng phu 丈夫:

1/ Chính nhân quân tử (nam tử hán 男子漢);

2/ Người chồng.

73.

美酒釀成緣好客;

黃金散盡為收書.

Mỹ tửu nhưỡng thành duyên hảo khách; hoàng kim tán tận vị thu thư.

Rượu ngon nấu thành vì khách quý; vàng ròng xài hết vì thu mua sách.

CHÚ:

- Nhưỡng : Nấu rượu, cất rượu (nhưỡng tửu 釀酒). – Nhưỡng thành 釀成: Nấu thành.

– Duyên : Do, vì, vị ().

Bài thơ Khách Chí 客至 của Đỗ Phủ 杜甫 có câu:

Hoa kính bất tằng duyên khách tảo

Bồng môn kim thủy vị quân khai.

花徑不曾緣客掃

蓬門今始為君開.

(Đường hoa chưa từng vì khách quét / Cửa cỏ bồng nay mới mở cho anh.)

– Tán tận 散盡: Tan hết, xài hết.

– Chữ :

1/ Đọc vị: Vì (như chữ duyên ở vế trước);

2/ Đọc vi: Làm.

– Thu : Thu gom. – Thu thư 收書: Thu mua sách.

 

 

 

74.

救人一命, 勝造七級浮屠.

Cứu nhân nhất mệnh, thắng tạo thất cấp phù đồ.

Cứu một mạng người còn hơn xây phù đồ bảy bậc.

CHÚ:

- Chữ thắng (còn hơn) đã chú ở câu 70.

– Cấp : Cấp, bậc. – Phù đồ 浮屠: Gốc là phiên âm từ Buddha (Phật), còn phiên âm là: phù đầu 浮頭, phù đồ 佛圖, Phật đà 佛陀

(佛馱), phù đà 浮陀, bộ đà 步陀. Hiện nay nói gọn là Phật (đấng giác ngộ). Người Việt phiên âm buddha là “bụt”.

– Thất cấp phù đồ : Cái tháp thờ Phật có bảy cấp bậc hay bảy tầng (thất tằng Phật tháp 七層佛塔).

Ca dao:

Dầu xây chín bậc phù đồ

Không bằng làm phúc cứu cho một người.

75.

城門失火,

殃及池魚.

Thành môn thất hỏa,

Ương cập trì ngư.

Cổng thành bị cháy, tai ương đến cá trong ao.

CHÚ:

- Thất hỏa 失火: Phát cháy, bị cháy (khởi hỏa 起火, phát sinh hỏa tai 發生火災).

– Ương : Tai ương, họa, vạ.

– Trì : Ao.

– Trì ngư 池魚: Cá trong ao. Tương truyền thành nước Tống bị cháy, người ta lấy nước trong ao chữa cháy,

khiến cá trong ao chết hết. Từ đó có điển cố trì ngư chi ương 池魚之殃 (tai họa của cá trong ao).

NGHĨA LÝ:

Tuy vô tội nhưng vì liên lụy mà gặp tai họa.

 

76.

;

.

Đình tiền sinh thụy thảo;

Hiếu sự bất như vô.

Trước sân mọc cỏ lành; hiếu sự chẳng bằng vô sự.

CHÚ:

- Đình : Sân.

– Thụy : Tốt lành (cát tường 吉祥); điềm lành (thụy triệu 瑞兆).

– Chữ :

1/ Đọc hảo (tốt đẹp), như: hảo sự 好事 (việc tốt lành);

2/ Đọc hiếu/háo (thích, ham), như: hiếu/háo sự 好事 (thích nhiều chuyện: hỷ hoan đa sự 喜歡多事).

NGHĨA LÝ:

Trước sân mọc cỏ tốt lành [khiến người hiếu sự kéo tới xem]; hiếu sự như vậy chẳng bằng không có sự việc đó.

77.

,

.

Dục cầu sinh phú quý,

Tu hạ tử công phu.

Muốn cầu phú quý, phải hết sức làm lụng cực khổ.

CHÚ:

- Công phu 工夫: Thời gian và sức lực; nói chung là những khó khăn vất vả để nên việc.

– Tử công phu 死工夫: Làm việc chết bỏ, tận lực lao động (trí óc và chân tay).

– Chữ hạ dùng như động từ là thi hành 施行, sử dụng 使用.

NGHĨA LÝ:

Việc gì cũng vậy, phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có kết quả lớn lao.

 

78.

百年成之不足;

一旦敗之有餘.

Bách niên thành chi bất túc;

Nhất đán bại chi hữu dư.

Trăm năm chưa đủ để hoàn thành; mà phá hoại thì chỉmột ngày thôi.

CHÚ:

- Chi : Nó, việc đó, người đó.

- Thành chi 成之: Khiến nó thành công.

- Bại chi 敗之: Khiến nó thất bại; làmhư việc, hủy hoại nó.

– Đán :

1/ Sáng sớm (triêu , tảo thần 早晨), đán mộ 旦暮 (triêu mộ 朝暮: sớm tối);

2/ Ngày:

nguyên đán 元旦 (ngày đầu năm), nhất đán一旦 (một ngày nào đó).

– Nhất đán bại chi hữu dư 一旦敗之有餘: Một ngày thì dư sức phá hoại nó.

NGHĨA LÝ:

Đập phá thì dễ; xây dựng thì khó.

79.

人心似鐵;

官法如爐.

Nhân tâm tự thiết;

Quan pháp như lô.

Lòng người tợ sắt; phép quan như lò.

CHÚ:

- Thiết : Sắt; vài kim loại thông thường như: kim (vàng), ngân (bạc), thiết (sắt), cương (thép), đồng (đồng), tích (thiếc), diên (chì), tân (kẽm).

– Quan pháp 官法: Phép quan, luật pháp.

– Lô : Lò, bếp.

– Dung khoáng lô 熔礦爐: Lò luyện.

NGHĨA LÝ:

Lòng dân có lì lợm, cứng rắn như sắt thép thì luật pháp cũng như lò luyện kim sẽ nấu chảy hết.

 

80.

善化不足;

惡化有餘.

Thiện hóa bất túc;

Ác hóa hữu dư.

Trở nên tốt thì bao nhiêu cũng không đủ;

Biến thành ác thì dư sức làm.

CHÚ:

- Bất túc 不足,: Không đủ.

- Hữu dư 有餘: Có thừa, có dư.

- Thiện hóa 善化: Hóa ra thiện, biến thành tốt.

– Ác hóa 惡化: Hóa ra ác, biến thành ác.

NGHĨA LÝ:

Làm người thiện khó; làm kẻ ác dễ. (Dân gian nói: Làm người thì khó; làm chó thì dễ.)

81.

水太清則無魚,

人太緊則無智.

Thủy thái thanh tắc vô ngư;

Nhân thái khẩn tắc vô trí.

Nước trong quá thì không có cá; người nóng vội quá thì chẳng khôn.

CHÚ:

- Tắc : Ắt là, thì.

– Khẩn : Gấp, khẩn cấp, nóng vội, nóng nảy (cấp táo 急躁).

– Trí : Sáng suốt, khôn ngoan.

Dị bản, Đại Đái Lễ Ký 大戴禮記 chép: Thủy chí thanh tắc vô ngư; nhân chí sát tắc vô đồ.

水至清則無魚;

人至察則無徒.

(Nước trong quá thì không có cá; người xét nét quá thì chẳng có bạn.)

– Đồ : Người cùng loại, bạn bè.

82.

知者減半;

省者全無.

Tri giả giảm bán;

Tỉnh giả toàn vô.

Người hiểu biết thì giảm một nửa;

Kẻ tỉnh ngộ thì xem như không có.

CHÚ:

- Giảm : Giảm bớt; trái với tăng (tăng thêm).

– Tri giả 知者: Người hiểu biết.

– Tỉnh : Tỉnh ngộ 省悟.

– Tỉnh giả 省者: Người tỉnh ngộ, giác ngộ.

Dị bản: Trí giả giảm bán; ngu giả toàn vô.

智知者減半;

愚者全無.

(Kẻ trí giảm đi một nửa, thì hết kẻ ngu.) Trong cổ văn, tri (biết) và trí (khôn, sáng suốt) dùng lẫn với nhau.

– Tri giả 知者: Trí giả 智者 (người sáng suốt).

NGHĨA LÝ:

Câu này liền ý câu 81. Câu 81 nói: Nước trong quá thì không có cá; người nóng vội quá thì chẳng khôn. Hay là: Nước trong quá thì không có cá; người xét nét quá thì chẳng có bạn. Bởi vì không ai hoàn toàn (nhân vô thập toàn人無十全); cho nên, người khôn ngoan khi hữu sự thì giảm bớt một nửa (bớt lời, bớt căng thẳng vấn đề); còn người giác ngộ hiểu đời thì xem việc ấy như chẳng có gì. (Câu 81 này cô đọng, gây tranh cãi về ý nghĩa.)

83.

在家由父;

出嫁從夫.

Tại gia do phụ;

Xuất giá tòng phu.

Ở nhà vâng lời cha; lấy chồng vâng theo chồng

CHÚ:

- Do : Vâng theo, nghe lời (thính tòng 聽從), như chữ tòng .

– Giá : Lấy chồng; thú : lấy vợ.

Dị bản: Tại gia tòng phụ; xuất giá tòng phu. 在家從父; 出家從夫. (Ở nhà theo cha; lấy chồng theo chồng.)

NGHĨA LÝ:

Đây là quan niệm Tam Tòng (Tam Tùng) 三從 của Nho Giáo, lấy đàn ông làm trung tâm. Bạch Hổ Thông白虎通 chép: Thị dĩ hữu tam tòng chi nghĩa: Vị giá tòng phụ; ký giá tòng phu; phu tử tòng tử. 是以有三從之義: 未嫁從父; 既嫁從夫; 夫死從子. (Do đó có ý nghĩa Tam Tòng: Chưa lấy chồng thì theo cha; lấy chồng rồi thì theo chồng; chồng chết thì theo con trai.)

84.

痴人畏婦;

賢女敬夫.

Si nhân úy phụ;

Hiền nữ kính phu.

Kẻ ngu sợ vợ; gái hiền kính chồng.

CHÚ:

- Si nhân 痴人: Ngu nhân 愚人 (kẻ ngu).

– Úy : Sợ (phạ ), như: tham sinh úy tử 貪生畏死 (tham sống sợ chết).

– Úy phụ 畏婦: Sợ vợ (phạ lão bà 怕老婆).

– Phụ : 1/ Phụ nữ 婦女; 2/ vợ (thê , lão bà 老婆).

– Phu phụ 夫婦: Phu thê 夫妻 (chồng và vợ).

NGHĨA LÝ:

Câu này đi liền câu 83. Gái có chồng thì vâng theo chồng. Gái hiền kính trọng chồng. Gái hư ăn hiếp chồng, mà chồng sợ vợ thì hắn là kẻ ngu.

 

85.

是非終日有, 不聽自然無.

Thị phi chung nhật hữu, bất thính tự nhiên vô.

Chuyện thị phi suốt ngày đều có, nếu chẳng nghe thì tự nhiên không có gì.

CHÚ:

- Chung nhật 終日: Suốt ngày, từ sáng tới tối (tòng tảo đáo vãn 從早到).

NGHĨA LÝ:

Chuyện thị phi nếu ta quan tâm thì thấy nó có, nếu không quan tâm thì thấy nó không có.

86.

寧可正而不足, 不可邪而有餘.

Ninh khả chính nhi bất túc, bất khả tà nhi hữu dư.

Thà chính trực và thiếu thốn còn hơn gian tà và dư dật.

CHÚ:

Nhi : 1/ Mà; 2/ Và, với; cơ trí nhi dũng cảm 幾智而勇敢 (mưu trí và can đảm).

NGHĨA LÝ: Thà nghèo mà đàng hoàng còn hơn giàu có mà gian ác.

87.

寧可信其有,

不可信其無.

Ninh khả tín kỳ hữu,

Bất khả tín kỳ vô.

Thà tin điều đã có, còn hơn tin điều không có.

CHÚ:

- Kỳ : Của nó, của kẻ ấy, của họ.

– Kỳ hữu 其有: Sự hiện hữu của nó (điều ấy, việc ấy).

– Kỳ vô 其無: Sự không hiện hữu của nó (điều ấy, việc ấy).

NGHĨA LÝ:

Hãy tin vào sự việc hiện có; không thể tin sự việc không có trên đời.

88.

竹籬茅舍風光好;

道院僧房總不如.

Trúc ly mao xá phong quang hảo;

Đạo viện tăng phòng tổng bất như.

Giậu tre nhà tranh phong cảnh đẹp; đạo viện tăng phòng cũng chẳng bằng.

CHÚ:

- Ly : Hàng rào, bờ giậu (ly ba 籬笆).

– Mao : Cỏ tranh.

– Xá : Chỗ ở, nhà ở (phòng ốc 房屋, trú trạch 住宅).

– Mao xá 茅舍: Nhà lá, nhà tranh.

– Phong quang 風光: Quang cảnh, phong cảnh 風景, cảnh vật 景物.

– Đạo viện 道院: Đạo quán 道觀, chỗ đạo sĩ ở (đạo sĩ sở cư 道士所居).

– Tăng phòng 僧房: Chỗ sư sãi ở, chùa Phật (Phật tự 佛寺, tự viện 寺院).

– Tổng : Toàn bộ, tất cả đều.

NGHĨA LÝ:

Đạo quán và chùa Phật thường nguy nga tráng lệ, nhưng cũng không bằng nhà tranh giậu tre với phong cảnh đẹp. (Vì so sánh với đạo quán và chùa, có lẽ nhà tranh đây là chỗ của một vị ẩn tu lánh đời.)

89.

命裡有時終須有;

命裡無時莫強求.

Mệnh lý hữu thời chung tu hữu; mệnh lý vô thời mạc cưỡng cầu.

Khi số mạng có thì rốt cuộc sẽ phải có; khi số mạng không có thì chớ gượng cầu.

CHÚ:

- Lý (): Trong, bên trong.

- Mệnh lý 命裡: Ở trong số mạng.

NGHĨA LÝ:

Câu này theo thuyết định mệnh. Mỗi người có số mạng riêng, không thể miễn cưỡng đòi hỏi những thứ mà số mạng mình không có. Bôn ba chẳng qua thời vận. Tuy nhiên, tin quá vào số mạng, vào thời vận thì con người mất sức phấn đấu, có thái độ buông xuôi, tiêu cực. Do đó cứ tận nhân lực rồi hãy tri số mạng.

90.

道院迎仙客;

書堂隱相儒.

Đạo viện nghinh tiên khách; thư đường ẩn tướng Nho.

Đạo viện đón khách tiên; nơi đọc sách ẩn tướng Nho.

CHÚ:

- Tiên khách 仙客: Khách quý trong giới đạo sĩ, là vị tiên tương lai.

– Thư đường 書堂: Chỗ đọc sách (thư phòng 書房), trường học (học đường 學堂).

– Ẩn : Ẩn giấu, chưa lộ diện.

– Tướng Nho 相儒: Nho sĩ, là tể tướng 宰相 tương lai.

NGHĨA LÝ:

Chốn tu hành tiếp đón bậc tu hành sẽ đắc đạo, nơi học đường là chỗ ẩn tàng tể tướng tương lai.

Nguồn Lê Anh Minh

Ở đây chú giải về chữ Mệnh chưa rốt ráo.

Tuy vậy, bất tất phải nói tận, nói tận chưa chắc đã hay. Ko cần lo rằng tin vào số mệnh sẽ khiến người ta ỷ lại, vì cái đói rét trực tiếp hiện hữu cũng như những tham muốn vô bờ.... có sức công kích mạnh mẽ hơn là những thứ xa xôi mịt mờ. Lo bò trắng răng!

Ngược lại, tin vào số mệnh lại có khi an ủi được tâm hồn người ta.

Không có mẫu số chung ở cõi bụi bay muôn nẻo này !

 

91.

庭栽棲鳳竹;

池養化龍魚.

Đình tài thê phượng trúc;

Trì dưỡng hóa long ngư.

Sân trồng cây trúc cho chim phượng đậu; ao nuôi loài cá sẽ hóa rồng.

CHÚ:

- Tài : Trồng.

– Thê : 1/ Đậu (loài chim và cầm đậu); 2/ Cư trú, ở; như: lưỡng thê 兩棲 (cùng sống trên cạn và dưới nước).

– Phượng : Chim phượng hoàng 鳳凰 (chim trống là phượng, chim mái là hoàng), loài chim linh (linh điểu靈鳥) trong truyền thuyết, ngụ ý ở đây là chim quý.

– Trì : Ao (đường , trì đường 池塘).

– Hóa long ngư 化龍魚: Cá sẽ hóa rồng, cá vượt vũ môn sẽ thành rồng.

NGHĨA LÝ:

Sân và ao ở đây là chỗ dành cho chim quý và cá quý; ngụ ý là nơi nuôi dưỡng Nho sinh sẽ thi đỗ.

92.

結交須勝己;

似我不如無.

Kết giao tu thắng kỷ;

Tự ngã bất như vô.

Kết bạn thì chọn kẻ hơn ta; nếu chọn kẻ giống như ta thì chẳng bằng không kết bạn.

CHÚ:

- Thắng : Hơn (đã giải thích ở câu 70).

– Kỷ : Bản thân ta.

– Thắng kỷ 勝己: Tài giỏi hơn ta.

– Tự ngã 似我: Giống như ta.

NGHĨA LÝ:

Câu này liền ý hai câu 90, 91, nói về chọn bạn mà chơi. Kết bạn thì chọn bạn tài đức giỏi giang hơn ta (tiên khách, tướng nho, phượng, hóa long ngư) để ta noi gương và học hỏi theo.

 

93.

但看三五日,

相見不如初.

Đãn khán tam ngũ nhật,

Tương kiến bất như sơ.

Chỉ cần xem năm ba hôm, thì thấy khác ấn tượng ban đầu mới quen.

CHÚ:

- Đãn : 1/ Chỉ cần, miễn là (chỉ yếu 只要); 2/ Nhưng (đãn thị 但是).

– Sơ : Ấn tượng lúc đầu quen biết (sơ tương thức đích ấn tượng 初相識的印象).

NGHĨA LÝ:

Lúc đầu ta gặp ai thì có một ấn tượng nhất định. Sau vài lần gặp lại thì thấy khác lúc đầu. Kết giao phải có thời gian mới đánh giá được đối phương tốt hay xấu. Ấn tượng ban đầu có thể đúng hoặc sai.

94.

人情似水分高下;

世事如雲任卷舒.

Nhân tình tự thủy phân cao hạ;

Thế sự như vân nhậm quyển thư.

Tình người như nước cao thấp; sự đời như mây tụ tán.

CHÚ:

- Nhậm (nhiệm) : Tùy theo; như: nhậm ý 任意 (tùy ý), nhậm vận 任運 (tùy thời vận).

- Quyển thư 卷舒: Cuộn lại và tản ra.

NGHĨA LÝ:

Tình người như nước khi cao khi thấp. Lúc nồng hậu, lúc lạt lẽo, nên đừng lạ. Chuyện đời như mây, mặc kệ nó biến hóa.

95.

說說都是,

不會說無禮.

Hội thuyết thuyết đô thị,

Bất hội thuyết vô lễ.

Người hiểu biết nói ra đều đúng; người không hiểu biết nói ra lời vô lễ.

CHÚ:

- Chữ hội ở đây ngụ ý hiểu biết. Có cách hiểu khác, hội thuyết : Biết nói, khéo nói. Người khéo nói, nói ra bất kể thế nào cũng là đúng; còn kẻ không khéo nói, nói ra bị cho là vô lễ.

Dị bản: Hội thuyết thuyết đô thị, bất hội thuyết vô lý.

說說都是,

不會說無理.

(Người hiểu biết nói ra đều đúng; người không hiểu biết nói ra lời vô lý.)

Hai chữ cùng âm phổ thông [lǐ], nên bị sao chép lẫn lộn qua lại.

96.

磨刀恨不利;

刀利傷人指.

Ma đao hận bất lợi;

Đao lợi thương nhân chỉ.

Mài dao hận dao không bén, [nhưng] dao bén sẽ đứt tay người.

CHÚ:

- Ma : Mài.

– Lợi : Sắc bén.

– Thương : Làm bị thương.

– Chỉ : Ngón tay, ngón chân.

– Thủ chỉ 手指: Ngón tay.

– Cước chỉ 脚趾 (脚指): Ngón chân.

NGHĨA LÝ:

Chơi dao có ngày đứt tay. Nhưng dao không mài bén thì chẳng dùng được, cho nên có dao bén thì phải cẩn thận.

97.

求財恨不多;

財多害人己.

Cầu tài hận bất đa;

Tài đa hại nhân kỷ.

Cầu tài hận không được nhiều; tài nhiều hại bản thân.

CHÚ:

- Tài : Tài vật, tiền tài, tiền bạc.

NGHĨA LÝ:

Cầu mong tiền bạc thì hận là không có được nhiều, nhưng có nhiều tiền bạc thì dễ bị lụy thân. Cầu tài mà có là mừng rồi, nhưng có kẻ còn ức là không được nhiều. Thí dụ như trúng số ít quá, hận là không trúng độc đắc. Câu nàycũng như câu 98, khuyên ta biết đủ (tri túc 知足), chớ tham lam, ham hố mà hại bản thân.

98.

知足常足;

終身不辱.

Tri túc thường túc;

Chung thân bất nhục.

Biết đủ thì luôn đủ; suốt đời không bị nhục.

CHÚ:

- Nhục : Nhục nhã; như: vinh nhục 榮辱 (vẻ vang và nhục nhã), nhẫn nhục 忍辱 (nhịn nhục), nhục mạ 辱罵 (mắng, làm nhục ai).

NGHĨA LÝ:

Người tri túc thường vui (tri túc thường lạc 知足常樂), không bon chen. Bon chen thì có lúc thắng thua được mất, sẽ bị xấu hổ nhục nhã. Nguyễn Công Trứ nói: Tri túc tiện túc; đãi túc hà thời túc? 知足便足; 待足何時足? (Biết đủ là đủ liền; đợi đủ biết bao giờ đủ?)

99.

知止常止;

終身不恥.

Tri chỉ thường chỉ;

Chung thân bất sỉ.

Biết dừng thì luôn dừng; trọn đời không xấu hổ.

CHÚ:

- Chỉ : Dừng lại (đình chỉ 停止).

– Sỉ : Xấu hổ (tu sỉ 羞恥).

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 98, nói về cái biết: biết đủ, biết dừng lại (tri túc tri chỉ 知足知止). Đó là tri thời thức thời 知時識時 (hiểu biết thời thế), linh động uyển chuyển: biết tiến biết lui, biết dừng biết đủ, biết còn biết mất. Thế sự như ván cờ, thắng thua được mất. Thắng không kiêu, bại không nản. Luôn giữ đức trung chính của mình. Người như vậy là kẻ trí, là thánh nhân.

Chu Dịch (văn ngôn quẻ Càn) chép:

Tri tiến nhi bất tri thoái, tri tồn nhi bất tri vong, tri đắc nhi bất tri táng, kỳ duy ngu nhân hồ! Tri tiến thoái tồn vong, nhi bất thất kỳ chính giả, kỳ duy Thánh Nhân hồ!

知進而不知退, 知存而不知亡, 知得而不知喪, 其唯愚人乎! 知進退存亡, 而不失其正者, 其唯聖人乎!

(Biết tới mà không biết lui, biết còn mà không biết mất, biết được mà không biết thua, chỉ có kẻ ngu mới như thế mà thôi. Biết tới lui, còn mất (tiến thoái tồn vong) nhưng không đánh mất sự trung chính, chỉ có Thánh Nhân mà thôi.)

100.

有福傷財; 無福傷己.

Hữu phúc thương tài; vô phúc thương kỷ.

Có phước hao tổn tiền tài; vô phước thương tổn bản thân.

CHÚ:

- Thương : Làm bị thương (thương hại 傷害), hao tốn (hao tổn 耗損).

NGHĨA LÝ:

Thân ta là quý nhất. Tiền tài, vật chất chỉ là vật bên ngoài thân. Nếu có hao tốn (như bị trộm cướp, tai nạn) mà còn giữ được thân thì tốt, là có phước. Còn như thân bị tổn thương hay vong mạng thì quả là vô phước. (Mỗi khi bị mất mát tài sản, dân gian nói: Của đi thay người.)

101.

差之毫釐, 失之千里.

Sai chi hào ly, thất chi thiên lý.

Sai một ly mất đi ngàn dặm.

CHÚ:

- Sai : Sai biệt, sai lầm.

– Hào ly 毫釐: Một lượng rất nhỏ, mảy may.

– Lý: Một dặm.

NGHĨA LÝ:

Câu này nói gọn là: Hào ly thiên lý. 毫釐千里. (Sai một ly, đi ngàn dặm.) Làm việc gì phải cân nhắc thật kỹ, nếu bị sai một chút thì hậu quả có thể rất lớn.

102.

若登高必自卑;

涉遠必自邇.

Nhược đăng cao tất tự ti;

Nhược thiệp viễn tất tự nhĩ.

Nếu lên cao ắt từ chỗ thấp; nếu đi xa ắt từ chỗ gần.

CHÚ:

Nhược : Nếu.

– Tất : Ắt là, thì.

– Tự : 1/ Tự (tự tri 自知: tự biết mình); 2/ Từ (tự cổ dĩ lai 自古以來: từ xưa tới nay).

– Cao : Cao, trái với ti (thấp).

– Thiệp : Lội nước; như: thiệp giang 涉江 (qua sông), bạt thiệp (lặn lội, đi vất vả). [Qua sông là thiệp , đi trên đất là bạt

; bạt thiệp ngụ ý đi đường vất vả gian nan].

– Viễn : Xa xôi (hà ), trái với nhĩ (gần), cận (gần).

– Viễn cận 遠近: hà nhĩ 遐邇 (xa gần).

Câu này gốc từ Thư Kinh 書經 (Thái Giáp hạ 太甲下):

Nhược thăng cao tất tự hạ; nhược trắc hà tất tự nhĩ.

若升高必自下;

若陟遐必自邇.

(Nếu lên cao ắt từ chỗ thấp; nếu leo xa ắt từ chỗ gần.)

– Trắc : Leo trèo.

Mặc Tử nói: Hành giả tất tiên cận nhi hậu viễn.

行者必先近而後遠.

(Hành động ắt trước ở gần rồi sau mới xa.)

Lão Tử (chương 64) nói:

Cửu tằng chi đài khởi ư lũy thổ; thiên lý chi hành thủy ư túc hạ.

九層之臺起於累土; 千里之行始於足下.

(Đài cao chín tầng đắp lên từ đất; hành trình ngàn dặm bắt đầu ở chân.)

NGHĨA LÝ:

Học tập hay làm việc phải có cơ sở, từ thấp lên cao, từ gần tới xa. Không thể đốt giai đoạn, làm ngang làm tắt. Phải có nền tảng vững rồi mới tiến lên, cân nhắc rồi hành động, vì sai một ly đi ngàn dặm.

103.

三思而行; 再思可矣.

Tam tư nhi hành; tái tư khả hỹ.

Cân nhắc ba lần mới làm; hai lần cũng được.

CHÚ:

- Tam tư 三思: Suy nghĩ ba lần.

– Tái : Lặp lại.

– Tái tư 再思: Suy nghĩ hai lần. Câu này lấy ý từ Luận Ngữ (Công Dã Tràng):

Quý Văn Tử tam tư nhi hậu hành. Tử văn chi, viết: Tái, tư khả hỹ.

季文子三思而後行. 子聞之, : , 斯可矣.

(Quý Văn Tử suy nghĩ ba lần rồi mới hành động. Khổng Tử nghe vậy bèn nói: Hai lần là được rồi.)

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 102, nhấn mạnh sự thận trọng, cân nhắc đắn đo rồi mới hành động, kẻo sai một ly đi ngàn dặm.

104.

使口不如自走; 求人不如求己.

Sử khẩu bất như tự tẩu; cầu nhân bất như cầu kỷ. Sai người làm chẳng bằng tự mình đi làm; cầu người chẳng bằng cầu chính mình.

CHÚ:

- Sử 使: Sai bảo, sai khiến.

– Sử khẩu 使口: Sai bảo, mở miệng nhờ ai làm.

– Tẩu : Đi, ở đây là hành động.

– Cầu nhân 求人: Cầu xin, mong cầu, nhờ cậy người khác.

– Cầu kỷ 求己: Cầu ở mình, tức cố gắng tự làm, không nhờ cậy ai khác.

Trong Luận Ngữ (Vệ Linh Công), Khổng Tử nói: Quân tử cầu chư kỷ; tiểu nhân cầu chư nhân.

君子求諸己; 小人求諸人.

(Quân tử cầu ở mình; tiểu nhân cầu ở người.)

– Chư viết gọn của chi ư 之於, tức là: 君子求之於己 (quân tử cầu điều ấy ở mình); 小人求之於人 (tiểu nhân cầu điều ấy ở người).

NGHĨA LÝ:

Hãy tự lực tự cường, cái gì mình tự làm được thì tự làm, chớ nhờ cậy ai cả.

105.

小時是兄弟; 長大各鄉里.

Tiểu thời thị huynh đệ; trưởng đại các hương lý.

Lúc còn nhỏ là anh em chung nhà; lớn lên mỗi người một phương.

CHÚ:

- Đơn vị hành chánh, dưới huyện là hương , dưới hương là thôn .

– Lý : Xóm.

– Hạng : Ngõ hẻm.

– Hương thôn 鄉村: Thôn quê.

– Hương lý 鄉里: 1/ Làng xóm; 2/ Quê nhà (gia hương , cố hương ).

NGHĨA LÝ:

Lúc nhỏ chung nhà là anh chị em với nhau. Khi trưởng thành mỗi người có gia đình và sự nghiệp riêng, tản mác khắp nơi.

106.

妒財莫妒食; 怨生莫怨死.

Đố tài mạc đố thực; oán sinh mạc oán tử.

Ganh ai về tiền tài; chớ ganh miếng ăn. Hận ai khi họ còn sống; chớ hận khi họ đã mất.

CHÚ:

- Đố

: Đố kỵ 妒忌, tật đố 嫉妒: Ganh tỵ.

– Oán :Oán hận.

– Ai oán 哀怨: Bi ai (buồn rầu) và oán hận.

NGHĨA LÝ:

Đố kỵ, ganh ghét, là thói xấu phần đông chúng ta hay có. Có thể ganh về tiền tài, nhưng chớ ganh về miếng ăn. Miếng ăn là miếng tồi tàn. Có thể oán hận ai khi họ sống, nhưng họ mất rồi thì nên buông xả, hận mãi cũng vô ích, mà mình lại không thanh thản. Đó là nói chung.

Câu này liền ý câu 105. Xét về phương diện anh chị em trong nhà, mỗi người một phận. Kẻ nghèo người giàu, không nên ganh tỵ tiền bạc. Nếu lỡ có thói ấy thì cũng chớ có ganh miếng ăn. Anh chị em đôi khi không thuận hòa, giả sử có thể oán hận nhau về điều gì đó, nhưng ai đã mất thì đừng hận nữa. Thật sự muốn cho mình thanh thản ở đời thì nên tâm niệm một từ là nguyên lượng 原諒 (tha thứ) đối với bất cứ ai. Có như thế, tâm không phiền não. Tâm không bị thất tình lục dục quấy nhiễu, chính là tâm an lạc.

107.

人見白頭嗔;

我見白頭喜.

Nhân kiến bạch đầu sân; ngã kiến bạch đầu hỷ.

Người thấy bạc đầu thì giận; ta thấy bạc đầu thì vui.

CHÚ:

Sân (giận) là một trong tam độc (tham, sân, si) hại người.

NGHĨA LÝ:

Ai cũng mong trẻ mãi không già, nên đa số thấy mình bạc đầu thì buồn giận. Nếu lạc quan thì thấy nên vui, vì mình tuổi cao, nghĩa là sống thọ.

108.

多少少年亡;

不到白頭死.

Đa thiểu thiếu niên vong; bất đáo bạch đầu tử.

Nhiều người trẻ đã mất; chưa đến bạc đầu đã chết.

CHÚ:

— Chữ : 1/ Đọc thiểu (ít); 2/ Đọc thiếu (nhỏ tuổi).

– Đa thiểu 多少: 1/ Nhiều; 2/ Bao nhiêu?

– Thiếu niên 少年: Người trẻ tuổi.

NGHĨA LÝ:

Câu này tiếp ý câu 107, là một cái nhìn lạc quan với tuổi già. Có người thấy già là buồn giận, nhưng ta tới già là vui, vì sống thọ. Cứ xem có nhiều người trẻ chưa bạc đầu đã chết rồi. Thật vậy, cứ ra nghĩa trang mà nhìn, có rất nhiều nấm mộ của người trẻ, thậm chí của hài nhi. Đó là nói về mặt đời, còn về mặt đạo, già hay trẻ nếu không học đạo thì cũng uổng phí kiếp người, nên kinh sách khuyên:

Mạc đãi lão lai phương học đạo Cô phần đa thị thiếu niên nhân.

莫待老來方學道;

孤墳多是少年人.

(Chớ đợi đến già mới học đạo

Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh.)

109.

牆有縫; 壁有耳.

Tường hữu phùng; bích hữu nhĩ.

Tường có mạch; vách có tai.

CHÚ:

— Tường (bích ): Vách tường.

– Tâm như tường bích. 心如墙壁: Tâm như vách chắn, không để chuyện bên ngoài xâm nhập.

– Bích quán 壁觀 (diện bích 面壁): Ngồi tu thiền ngó vách.

– Phùng : 1/ Đường may; 2/ Kẽ nứt, kẽ hở (khích ); như: tường phùng 牆縫 (kẽ nứt trên tường, mạch tường), môn phùng 門縫 (kẽ cửa, môn khích 門隙).

– Bích hữu nhĩ 壁有耳: cách tường hữu nhĩ 墙有耳 (tường vách có tai).

Người Việt nói: 1/ Dừng có mạch; vách có tai. 2/ Tai váchmạch dừng. (Dừng là tấm vách lá, tấm phên thay cho tường.)

Dị bản: 1/ Rừng có mạch; vách có tai. 2/ Tai vách mạch rừng.

NGHĨA LÝ:

Hãy thận trọng, việc cơ mật phải kín miệng, kẻo tiết lộ ra ngoài.

110.

好事不出門;

惡事傳千里.

Hảo sự bất xuất môn;

ác sự truyền thiên lý.

Việc lành chẳng ra khỏi nhà; việc ác lan truyền ngàn dặm.

CHÚ:

- Chữ danh từ đọc là truyện; động từ đọc là truyền.

NGHĨA LÝ:

Thói đời thích chuyện thị phi, tin giật gân, quái dị hơn là tin tức tốt lành; cho nên loại tin này được miệng đời lan truyền đi rất nhanh.

Người Việt nói: Tiếng lành đồn gần; tiếng ác đồn xa. Tây phương cũng vậy: Bad news have wings. (Tin xấu có cánh.) Có cánh nên bay xa.

 

113.

貧窮自在; 富貴多憂.

Bần cùng tự tại; phú quý đa ưu.

Nghèo mà tự tại; giàu lắm lo sầu.

CHÚ:

- Tự tại 自在: An nhiên, tự do, thoải mái.

– Ưu : Lo buồn, ưu phiền.

– Cẩn tắc vô ưu 謹則無憂: Cẩn thận thì

không lo buồn.

NGHĨA LÝ:

Bần cùng tự tại, thì cái này là nghèo chứ không khổ. Giàu sang chưa chắc đã sướng, người xưa nói: Phú quý trường trung dị bạch đầu. 富貴場中易白頭. (Trong cảnh phú quý ta dễ bị bạc đầu lo buồn.)

Khổng Tử nói về bần cùng tự tại trong Luận Ngữ (Thuật Nhi): Phạn sơ thực ẩm thủy, khúc quăng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú thả quý, ư ngã như phù vân.

飯疏食飲水, 曲肱而枕之, 樂亦在其中矣. 不義而富且貴, 於我如浮雲.

(Ăn cơm xoàng, uống nước lã, co cánh tay gối đầu,trong cảnh đó cũng có niềm vui. Làm điều bất nghĩa mà giàu sang, thì cái giàu sang ấy ta xem như mây nổi.)

114.

不以我為德; 反以我為仇.

Bất dĩ ngã vi đức; phản dĩ ngã vi cừu.

Chẳng xem ta là ân nhân; trái lại, xem ta là kẻ thù.

CHÚ:

- Dĩ … vi : Xem … là…; như: dĩ hòa vi quý 以和為貴 (xem hòa là quý).

– Đức : 1/ Đạo đức; 2/ Ân huệ 恩惠, ân đức 恩德. Trong câu này đức hiểu là người ban ân (ân nhân 恩人).

– Phản: Trái lại.

– Cừu : 1/ Mối thù (cừu hận仇恨, cừu thù 仇讎); 2/ Kẻ thù (thù , cừu địch 仇敵, cừu nhân 仇人).

NGHĨA LÝ:

Thói đời vốn bạc bẽo. Cứu vật, vật trả ân; cứu nhân, nhân trả oán. Đã không báo đáp ân nhân, mà còn oánhận. Ân càng thâm; oán càng sâu. Bởi vậy người xưa khuyên: Thi ân bất cầu báo; dữ nhân bất truy hối. 施恩不求報; 與人不追悔. (Giúp người chớ mong báo đáp; cho ai vật gì rồi thì đừng nghĩ lại mà hối tiếc.)

115.

寧向直中取, 不可曲中求.

Ninh hướng trực trung thủ, bất khả khúc trung cầu.

Thà nhận nơi ngay thẳng, chứ không cầu chốn cong vẹo.

CHÚ:

- Hướng trực trung thủ 向直中取: Nhận lấy trong chỗ ngay thẳng.

– Khúc : Cong quẹo, tà vạy. (Hướng) khúc trung cầu ()曲中求: Cầu mong trong chỗ tà vạy.

NGHĨA LÝ:

Thà đạt được (thành tựu) theo con đường chính đáng, ngay thẳng, chứ không mưu cầu theo con đường tà vạy, bất chính.

 

116.

人無遠慮, 必有近憂.

Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu.

Người không lo xa, ắt sẽ buồn gần.

CHÚ:

- Lự : Lo lắng.

– Viễn lự 遠慮: Lo xa.

– Cận ưu 近憂: Sự lo buồn đến gần. Câu này lấy từ Luận Ngữ (Vệ Linh Công).

117.

知我者謂我心憂, 不知我者謂我何求.

Tri ngã giả vị ngã tâm ưu, bất tri ngã giả vị ngã hà cầu.

Kẻ hiểu ta thì nói ta lo buồn; kẻ không hiểu ta thì nói ta mong gì đó.

CHÚ:

- Tri ngã giả 知我者: Kẻ hiểu ta.

– Vị : Nói.

– Bất tri ngã giả 不知我者: Kẻ không hiểu ta.

– Hà cầu 何求: Mong cầu điều gì đó.

NGHĨA LÝ:

Câu này lấy từ bài Thử Ly 黍離 trong Thi Kinh (Quốc Phong). Cùng một nét mặt của ta, kẻ hiểu ta và kẻ không hiểu ta có nhận xét khác nhau. Cũng là chuyện đời bình thường. Quen biết đầy thiên hạ, tri âm được mấy người?

 

118.

晴天不肯去, 只待雨淋頭.

Tình thiên bất khẳng khứ, chỉ đãi vũ lâm đầu.

Ngày tạnh ráo chẳng chịu đi, chỉ đợi mưa ướt đẫm đầu mới đi.

CHÚ:

- Tình : Quang tạnh, khô ráo.

– Tình thiên 晴天: Ngày quang tạnh, không mưa.

– Khẳng : Ưng, chịu, đồng ý; khẳng định 肯定 (thừa nhận).

– Chỉ : Chỉ có, chỉ khi.

– Đãi : Đợi.

– Lâm : Ướt đẫm, đầm đìa (lâm ly 淋漓).

NGHĨA LÝ:

Câu này nói về chữ thời. Làm việc gì mà đúng thời cơ thì hãy nắm bắt lấy ngay; đừng để nó qua rồi mới làm thì đã trễ và không đạt kết quả tốt.

119.

成事莫; 覆水難收.

Thành sự mạc thuyết; phúc thủy nan thu.

Việc xong rồi chớ nói chi; nước đổ rồi khó hốt lại.

CHÚ:

- Phúc : Lật úp, lật đổ (xem lại câu .

– Nan thu 難收: Khó gom lại.

NGHĨA LÝ:

Câu này nói về sự đã rồi (fait accompli), hết cách cứu vãn, nói ra cũng vô ích, cũng như bát nước hắt xuống đất không thể hốt lại.

 

120.

是非只為多開口;

煩惱皆因強出頭.

Thị phi chỉ vị đa khai khẩu;

Phiền não giai nhân cường xuất đầu.

Thị phi chỉ vì lắm lời; phiền não đều do ra mặt tranh hơn.

CHÚ:

- Cường : Mạnh mẽ.

– Xuất đầu 出頭: Ra mặt (xuất đầu lộ diện 出頭路面).

– Cường xuất đầu 強出頭: Ra mặt muốn tỏ ra mạnh hơn kẻ khác (tranh cường hiếu thắng 爭強好勝).

NGHĨA LÝ:

Vế đầu câu này khuyên ta thận ngôn 慎言 (thận trọng lời nói). Đa ngôn đa quá 多言多過 (lắm lời lắm lỗi). Họa tòng khẩu xuất 禍從口出 (tai họa từ miệng ra).

Vế sau câu này khuyên ta thận hành 慎行 (thận trọng hành vi). Đôi khi tiên hạ thủ vi cường 先下手為強 (ra tay trước là mạnh), nhưng thiếu thận trọng thì chuốc phin não.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN 3